Blog

  • Bà Nằm Dướι Đȃү Mẹ Ơι!” – Mọι Ngườι Đào TҺử Và KҺȏпg Tιп Vào Mắt

    Bà Nằm Dướι Đȃү Mẹ Ơι!” – Mọι Ngườι Đào TҺử Và KҺȏпg Tιп Vào Mắt

    “Bà Nằm Dướι Đȃү Mẹ Ơι!” – Mọι Ngườι Đào TҺử Và KҺȏпg Tιп Vào Mắt MìпҺ…

    Ngay từ lúc bước chân vào ngôi nhà ấy, Như đã cảm thấy một luồng khí lạnh lẽo kỳ lạ len lỏi vào da thịt.

    Không phải do thời tiết, cũng chẳng phải do tường ẩm mốc – mà là một cảm giác rờ n r ợn, như có ai đó đang quan sát họ.

    Như là một người mẹ đơn thân, vừa lyhôn, ôm con gái nhỏ Thúy về quê ngoại để tìm một khởi đầu mới.

    Cô thuê được căn nhà hai tầng cũ kỹ gần đình làng Yên Xá với giá rẻ đáng ngờ.

    Khi ký hợp đồng, ông Tâm – chủ nhà – chỉ nói ngắn gọn:

    “Chị ở thì cứ ở, nhưng tầng hầm thì khóa lại, đừng cho con bé xuống.

    Mấy đứa nhỏ trong làng bảo ở đó lạnh lẽo lắm…”

    Như chỉ cười trừ. Cô nghĩ, chắc nhà lâu không có người nên bọn trẻ bịa chuyện.

    Nhưng đêm đầu tiên trôi qua không yên bình như cô nghĩ.

    Khoảng ba giờ sáng, Như tỉnh giấc vì nghe tiếng lục đục dưới tầng trệt.

    Cô vội chạy xuống thì chếtsững.

    Con gái cô – Thúy – đang ngồi bệt giữa phòng khách, hai mắt nhắm nghiền, tay đặt lên một viên gạch xám giữa sàn nhà.

    Giọng con bé nhỏ nhẹ, tha thiết:

    “Bà ơi, đừng buồn… Con thương bà cụ dưới nền nhà…”

    Như ho;ảng hố;t lay con dậy. Thúy mở mắt, ngơ ngác nhìn mẹ rồi hỏi:

    “Mẹ ơi, ai tên Hiền vậy? Sao con nghe bà cụ khóc…”

    Dù cố trấn an con, trong lòng Như dấy lên nỗi bất an.

    Cô tự nhủ, chắc con bé bị ảnh hưởng do vừa chuyển nhà, cộng thêm trí tưởng tượng phong phú. Nhưng mọi chuyện chưa dừng ở đó.

    Thúy trở nên lặng lẽ. Con bé không còn líu lo như mọi ngày mà chỉ thích ngồi một mình, cặm cụi vẽ tranh.

    Những bức tranh ngày càng quái dị: hình một người phụ nữ bị trói tay, má;u chảy loang nền nhà, khuôn mặt đầy đau đớn.

    Một đêm, Thúy s ốt cao.

    Trong cơn mê man, giọng nói phát ra từ miệng con bé không còn là giọng trẻ con nữa, mà như của một người phụ nữ trưởng thành:

    “Họ đ ổ xi măng lên người tôi…

    Tôi không điên… Tôi có th;a i…”

    Như như ch;;ết lặng.

    Cô ôm con vào lòng, toàn thân run rẩy. Sáng hôm sau, cô bắt đầu dò hỏi về ngôi nhà.

    Bà Đào – chủ tiệm bánh gần chợ – hạ giọng khi nghe Như hỏi:

    “Chị cũng dọn vào cái nhà đó à?

    Trước kia có gia đình khác, đứa con gái cứ khóc đêm, thấy ‘hồnma’, rồi bỏ đi trong một tuần.”

    Ông Chí – một cụ già từng sống ở làng từ thời chiến tranh – sau nhiều lần năn nỉ mới kể:

    “Năm 1974, có cô Hiền, ngoan hiền lắm, làm thư ký cho hợp tác xã.

    Nghe đâu bị ba thằng đàn ông cưỡng hiếp – trong đó có ông Hòa, trưởng thôn ngày đó.

    Cô ấy tố cáo… rồi biến mất không dấu vết.”

    Như hỏi: “Không ai tìm cô ấy à?”

    Cụ Chí thở dài, mắt đục ngầu:

    “Họ bảo cô ấy đ;iên… Rồi lặng lẽ xếp hồ sơ.

    Người làng thì sợ… Làng này quen sống im lặng rồi.”

    Không thể chịu đựng thêm, một đêm, Như lấy hết can đảm.

    Cô lặng lẽ đập viên gạch xám nơi Thúy từng ngồi thì thầm.

    Dưới lớp gạch, lớp xi măng lởm chởm, lạnh buốt.

    Sau hai giờ đào sâu, tay cô chạm vào một mảnh vải mục.

    Đó là khăn trùm đầu, lấm m áu đã khô lại như bùn đất.

    Trong góc hố nhỏ, có một hộp thiếc rỉ sét. Cô run rẩy mở ra.

    Một bức thư tuyệt mệnh, chữ viết nguệch ngoạc nhưng rõ ràng:

    “Tôi tên Hiền. Tôi bị ông Hòa và hai người đàn ông cưỡng hiếp, có th;;ai. Họ bảo tôi điên.

    Tôi không đi ên. Tôi còn sống khi họ chôn tôi. Tôi không bỏ rơi con tôi…

    Nếu ai tìm thấy thư này, xin nói với con trai tôi rằng: Mẹ yêu con.”

    Như òa khóc. Mảnh đất dưới chân cô giờ như bốc mùi m áu tanh, lạnh đến xương tủy.

    Tin tức rò rỉ. Dân làng thay vì ủng hộ, lại gi;;ận dữ:

    – “Nó đào bới linh tinh!”

    – “Mang chuyện xấ u xí xới lại làm gì?”

    Ai đó phá xe máy của Như. Ai đó phun nước bọt vào con cô trước cổng trường.

    Thúy bị đám trẻ con hùa vào chửi là “manhập”.

    Ông Đức – chủ tịch xã, con trai của ông Hòa – lạnh giọng:

    “Chị muốn yên thân thì rút lui đi. Mấy chuyện cũ ấy, để ngủ yên dưới đất còn hơn.”

    Nhưng Như không dừng lại.

    Cô gửi thư và bằng chứng đến luật sư, báo chí, rồi tòa án.

    Kết quả điều tra chấn động: mẫu máu từ khăn khớp với ADN của một người tên Kiệt – sống trong trại trẻ mồ côi, chưa từng biết mẹ là ai.

    Dư luận bùng nổ. Các tờ báo gi ật tít: “Bímật bị ch ôn v ùi gần 50 năm – người phụ nữ bị giếtoan!”.

    Ông Đức bị cách chức. Cảnh sát mở lại hồ sơ.

    Danh tính ba kẻ thủ ác bị công khai, dù hai người trong số đó đã ch;ết.

    Một buổi lễ tưởng niệm được tổ chức tại đình làng – nơi Hiền từng cầu c;ứu.

    Trong làn khói hương bảng lảng, Thúy đứng giữa sân, tay nắm tay Kiệt – giờ đã là người đàn ông gần 50 tuổi – khẽ nói:

    “Bà Hiền đã đi rồi, đi trong ánh sáng…

    Bà không còn buồn nữa đâu.”

    Kiệt bật khóc. Lần đầu tiên trong đời, anh được nghe tiếng mẹ, qua miệng một đứa bé bảy tuổi.

    Ngôi nhà trở lại bình yên.

    Không còn mùi tanh, không còn tiếng khóc trong gương, không còn đèn chớp tắt lúc nửa đêm.

    Thúy vui vẻ trở lại.

    Những bức tranh của con bé giờ là cảnh đồng quê, nụ cười, ánh sáng.

    Kiệt, sau bao năm lưu lạc, tìm được nguồn cội của mình.

    Như – người mẹ đơn độc, từng bị cả làng dọa nạt – được vinh danh là người phụ nữ dũng cảm đã giúp giải o an cho một linh hồn và một quá khứ bị lãng quên.

    “Im lặng trước tội á c là tiếp tay cho cái á c.

    Sự thật có thể bị chôn vùi, nhưng một ngày nào đó, nó sẽ trỗi dậy, đòi lại công lý cho những linh h ồn đã từng bị bó p ngh ẹt giữa bóng tối.”

  • Bố ở trong cái tủ quần áo to đùng kia kìa.” Tôi cứ tưởng con bé chỉ nói li nh ti nh… cho đến khi câu nói tiếp theo của nó khi ến tôi lạ nh sống lưng.

    Bố ở trong cái tủ quần áo to đùng kia kìa.” Tôi cứ tưởng con bé chỉ nói li nh ti nh… cho đến khi câu nói tiếp theo của nó khi ến tôi lạ nh sống lưng.

    Tôi sững người mất một lúc, rồi bật cười vỗ lưng con.

    “Nói bậy nào, bố đi công tác hai tháng nay rồi, tuần trước còn gửi gấu bông về cho con cơ mà.”

    “Nhưng con nhìn thấy bố mà.”

    Giọng Đóa Đóa đè rất thấp, như sợ ai đó nghe thấy.

    “Bố ở trong tủ quần áo.”

    Tôi ngồi xổm xuống nhìn con bé, muốn tìm chút dấu vết của một trò đùa dai trên gương mặt nó.

    Không có.

    Vẻ mặt con bé cực kỳ nghiêm túc, thậm chí còn mang chút tủi thân.

    “Đêm con dậy đi vệ sinh, thấy bố từ phòng của bố mẹ đi ra.”

    “Bố xuống bếp uống nước, thấy con thì bảo là đang chơi trốn tìm.”

    “Bố bảo con phải giữ bí mật.”

    Đóa Đóa bẻ ngón tay đếm, “Con đếm rồi, bố bảo con giữ bí mật sáu mươi ngày rồi.”

    Sáu mươi ngày.

    Lâm Thịnh rời khỏi nhà, đúng tròn sáu mươi ngày.

    Trên đường lái xe về, tay tôi siết chặt vô lăng đến mức các khớp ngón tay trắng bệch.

    Đóa Đóa ngồi trong ghế an toàn, lẩm nhẩm hát bài hát học ở trường mẫu giáo, hoàn toàn không biết câu nói vừa rồi của mình giống như một quả bom.

    Tôi tự nhủ đừng suy nghĩ lung tung.

    Trẻ con không phân biệt được giấc mơ và hiện thực, có lẽ con bé nằm mơ thấy bố về.

    Nhưng con bé lại nói “xuống bếp uống nước”.

    Nói “trốn tìm”.

    Nói “sáu mươi ngày”.

    Một đứa trẻ năm tuổi không thể bịa ra một lời nói dối chi tiết đến thế.

    Về đến nhà, tôi để Đóa Đóa ngồi xem hoạt hình ngoài phòng khách.

    Rồi một mình bước vào phòng ngủ chính.

    Chiếc tủ quần áo nằm ở góc tường, rộng hai mét, thiết kế cao chạm trần, cánh cửa lùa màu nâu sẫm đóng kín bưng.

    Chiếc tủ này do Lâm Thịnh tìm thợ đóng riêng lúc sửa nhà, bảo là phải làm rộng và sâu hơn để treo được áo khoác dáng dài.

    Lúc đó tôi còn khen anh ta chu đáo.

    Bây giờ nhìn cánh cửa này, đột nhiên tôi thấy có gì đó không ổn.

    Tôi vươn tay, đặt lên tay nắm cửa.

    Do dự vài giây, tôi kéo ra.

    Bên trong treo đầy quần áo, bên trái là của tôi, bên phải là của Lâm Thịnh.

    Những ngăn kéo bên dưới vẫn gọn gàng, chẳng khác gì ngày thường.

    Không có gì cả.

    Tôi thở phào nhẹ nhõm, lại tự thấy mình thật nực cười.

    Trong tủ làm sao có thể giấu người được? Đây đâu phải phim kinh dị.

    Đóng cửa tủ lại, tôi lắc đầu.

    Chắc là dạo này mệt mỏi, áp lực quá nên nghĩ nhiều.

    Sau bữa tối, tôi tắm cho Đóa Đóa.

    Con bé đang nghịch chú vịt nhỏ trong chậu nước, đột nhiên lại thốt ra một câu.

    “Mẹ ơi, có phải bố không thích con nữa rồi không?”

    “Sao con lại nghĩ thế?”

    “Vì lần nào bố ra ngoài cũng lén lút, không chơi với con, toàn đuổi con về ngủ.”

    Đóa Đóa bĩu môi, “Con muốn bố kể chuyện cho con nghe, nhưng bố bảo không được, bảo là mẹ sẽ phát hiện ra.”

    Tay tôi khựng lại trên tóc con.

    “Bố bảo mẹ sẽ phát hiện ra?”

    “Vâng, bố bảo đây là nhiệm vụ bí mật, bị mẹ phát hiện là thất bại.”

    Đóa Đóa thấy tôi không nói gì, liền kéo ống tay áo của tôi.

    “Mẹ ơi, mẹ tức giận à?”

    “Không có.”

    Tôi nặn ra một nụ cười, nhịp tim đã bắt đầu đập loạn xạ.

    Nếu Đóa Đóa bịa chuyện, con bé không thể nói ra câu “bị mẹ phát hiện là thất bại”.

    Đó là logic của người lớn.

    Sau khi dỗ Đóa Đóa ngủ, tôi ngồi trên sofa ngoài phòng khách, không bật đèn.

    Màn hình điện thoại vẫn sáng, là tin nhắn WeChat Lâm Thịnh gửi hai tiếng trước.

    Một bức ảnh chụp cảnh đêm Bến Thượng Hải, kèm dòng chữ: “Mới tan ca, đi dạo một chút. Nhớ hai mẹ con.”

    Bức ảnh rất đẹp, đèn đuốc rực rỡ.

    Tôi mở vòng bạn bè của anh ta lên xem.

    Hai tháng nay, toàn là những hình ảnh đi công tác thường ngày.

    Phòng họp, bữa sáng ở khách sạn, cà phê cửa hàng tiện lợi.

    Địa điểm đều ở Thượng Hải.

    Mọi thứ đều bình thường, bình thường đến mức không có kẽ hở.

    Nhưng lời nói của Đóa Đóa cứ văng vẳng trong đầu tôi, không sao dừng lại được.

    Tôi chần chừ rất lâu, cuối cùng vẫn đứng dậy.

    Bước vào phòng ngủ chính, đóng cửa lại.

    Trong phòng chỉ có ánh sáng lờ mờ từ đèn đường hắt qua cửa sổ.

    Tôi không biết mình đang mong chờ điều gì, hay đang sợ hãi điều gì.

    Tôi chậm rãi bước đến trước chiếc tủ, áp tai vào đó.

    Mặt gỗ lạnh ngắt, áp sát vào má tôi.

    Tôi nín thở.

    Ban đầu không có gì cả, chỉ có tiếng tim tôi đập thình thịch như đánh trống.

    Rồi tôi nghe thấy.

    Rất khẽ, rất khẽ, một nhịp, hai nhịp.

    Giống như có người bên trong đang thay đổi tư thế.

    Tiếng vải cọ xát vào nhau.

    Và cả… tiếng thở.

    Nhịp thở rất nông, cố tình đè thấp, nhưng chắc chắn là có.

    Toàn thân tôi sởn gai ốc.

    Chân không nghe theo sự điều khiển mà lùi lại phía sau, va vào bàn trang điểm, những chai lọ đổ rầm rầm một loạt.

    Tiếng động trong tủ biến mất ngay lập tức.

    Giống như bên đó cũng nín thở.

    Tôi không nhớ mình đã bước ra khỏi phòng ngủ bằng cách nào.

    Chỉ nhớ lúc đóng cửa, tay tôi run lẩy bẩy, chốt cửa phải bấm đến ba lần mới vào khớp.

    Dựa lưng vào cửa, tôi trượt rạp xuống sàn.

    Trong tủ có người.

    Thật sự có người.

    Không phải ảo giác, không phải lời nói mớ của Đóa Đóa.

    Có một người, đang ở trong tủ quần áo nhà tôi, suốt sáu mươi ngày qua.

    Và chồng tôi, Lâm Thịnh, cũng vừa hay rời khỏi nhà đúng sáu mươi ngày.

    Ý nghĩ này vừa nảy ra, tôi cảm thấy toàn bộ ngôi nhà đã thay đổi.

    Những đồ nội thất, bức tường, sàn nhà quen thuộc kia, tất cả đều trở nên xa lạ.

    Giống như có ai đó đã đục một cái lỗ ở nơi tôi không biết, và luôn nhìn trộm tôi.

    Tôi cầm điện thoại lên định gọi.

    Gọi cho ai?

    Báo cảnh sát? Nói rằng chồng tôi đang trốn trong tủ quần áo nhà tôi?

    Cảnh sát chắc sẽ tưởng thần kinh tôi có vấn đề.

    Gọi cho cô bạn thân Hà Vi?

    Cô ấy đang đi công tác ở tỉnh khác, nước xa không cứu được lửa gần.

    Gọi cho mẹ tôi?

    Tim bà không tốt, không thể làm bà hoảng sợ.

    Tôi đặt điện thoại xuống.

    Lấy một cái chăn trên sofa, sang phòng Đóa Đóa, khóa trái cửa lại.

    Ôm chặt đứa con gái đang ngủ say, tôi thức trắng đêm.

    Bất cứ một tiếng động nhỏ nào cũng làm tim tôi đập thót.

    Tiếng máy nén điều hòa chạy ù ù, tiếng ô tô chạy ngang qua dưới lầu, tiếng rèm cửa bay sột soạt vì gió.

    Tôi vểnh tai phân biệt từng âm thanh một – có phải cửa tủ mở rồi không? Có phải có tiếng bước chân không?

    Một đêm trôi qua trong sự tra tấn.

    Trời sáng.

    Khi ánh nắng chiếu vào, nỗi sợ hãi rút đi một chút.

    Nhưng thay vào đó là một cảm xúc khác.

    Chương 2:

    Sự phẫn nộ.

    Nếu người đó thực sự là Lâm Thịnh, anh ta đang giở trò gì?

    Lúc mặc quần áo cho Đóa Đóa, tôi cố gắng tỏ ra bình thường nhất có thể.

    “Mẹ ơi, mắt mẹ đỏ quá.”

    “Mẹ gặp ác mộng thôi, không sao đâu.”

    “Mẹ mơ thấy gì thế?”

    “Mẹ mơ thấy… bánh kem mẹ nướng bị khét.”

    Đóa Đóa cười khúc khích, “Mẹ ngốc quá.”

    Trên đường đưa con đến trường mẫu giáo, tôi thử hỏi thêm vài câu.

    “Đóa Đóa, con bảo bố từ tủ quần áo bước ra, thế bố mặc đồ gì?”

    “Có lúc bố mặc đồ ngủ, có lúc mặc đồ đi làm của bố.”

    “Đồ đi làm? Loại áo sơ mi ấy hả?”

    “Vâng.” Đóa Đóa gật đầu, “Còn thắt cà vạt nữa.”

    Thắt cà vạt trong tủ quần áo?

    “Bố ra khỏi tủ thì làm những gì?”

    “Xuống bếp ăn đồ ăn, đi vệ sinh.” Đóa Đóa ngẫm nghĩ, “Có một lần con thấy bố ra phòng khách dùng điện thoại.”

    “Dùng điện thoại của ai?”

    “Con không biết, tối quá không nhìn rõ.”

    Tôi đưa Đóa Đóa qua cổng trường mẫu giáo, nhìn con bé nhảy chân sáo chạy vào lớp.

    Rồi ngồi lại vào xe, thẫn thờ một lúc.

    Có hai việc tôi phải xác nhận.

    Thứ nhất, người trong tủ rốt cuộc có phải là Lâm Thịnh hay không.

    Thứ hai, nếu đúng là anh ta, tại sao anh ta lại làm như vậy.

    Tôi không đến công ty mà xin nghỉ làm.

    Lái xe thẳng đến khu chợ điện tử ở phía nam thành phố.

    “Tôi muốn loại camera kết nối được với điện thoại, càng nhỏ càng tốt.”

    Nhân viên lấy ra ba mẫu cho tôi chọn.

    Tôi chọn cái nhỏ nhất, chỉ nhỉnh hơn hạt đậu phộng một chút, có nam châm hút và quay được ban đêm.

    Thanh toán xong, tôi ngồi trong xe mười phút, học cách kết nối ứng dụng và cài đặt cảnh báo chuyển động.

    Rồi lái xe về nhà.

    Trước khi bước vào cửa, tôi đứng ngoài một lúc lâu.

    Tôi đang sợ cái gì chứ?

    Đây là nhà của tôi.

    Đẩy cửa bước vào, mọi thứ yên ắng. Phòng khách ngăn nắp, bếp núc sạch sẽ.

    Ánh nắng chan hòa, trên giá để giày chỉ có giày của tôi và Đóa Đóa.

    Một ngôi nhà hoàn toàn bình thường.

    Tôi hít sâu một hơi, bước vào phòng ngủ chính.

    Tủ quần áo đóng chặt.

    Không có bất kỳ âm thanh nào.

    Tôi hành động thật nhanh, gắn camera vào mặt sau của bức tranh trang trí phía trên tủ đầu giường đối diện.

    Chỉnh góc quay hai lần, đảm bảo có thể thu được toàn bộ tủ quần áo và một nửa căn phòng.

    Mở điện thoại xác nhận hình ảnh rõ nét, cài đặt cảnh báo chuyển động.

    Tôi lùi ra khỏi phòng ngủ, đóng cửa lại.

    Sau đó tôi vào bếp.

    Mở tủ lạnh.

    Sáu hộp sữa chua mua tuần trước, còn ba hộp.

    Tôi và Đóa Đóa mới uống tổng cộng hai hộp.

    Thiếu một hộp.

    Trứng gà, mua mười hai quả, dùng bốn quả để xào rau. Lẽ ra phải còn tám quả.

    Tôi đếm lại.

    Sáu quả.

    Thiếu hai quả.

    Trên giá để bát đĩa, có một cái bát đặt không đúng chỗ. Tôi có thói quen úp bát xuống, nhưng cái bát này ngửa lên, bên trong còn một vệt nước chưa khô.

    Tôi đứng giữa nhà bếp, sóng lưng từng cơn lạnh buốt.

    Có người đang sử dụng nhà bếp của tôi.

    Vào lúc tôi không có nhà.

    Buổi trưa tôi ăn tạm chút bánh quy, ngồi ở phòng khách chờ đợi.

    1 giờ 43 phút chiều, điện thoại rung lên.

    Ứng dụng camera báo có thông báo: Phát hiện chuyển động.

    Tôi bấm vào xem.

    Cánh cửa lùa bên trái của tủ quần áo, từ từ trượt ra một khe hở.

    Rộng khoảng hai mươi cm.

    Một bàn tay thò ra.

    Tôi phóng to màn hình, chằm chằm nhìn vào bàn tay đó.

    Những ngón tay thon dài, trên cổ tay đeo một chiếc đồng hồ mặt đen.

    Là chiếc Tissot tôi tặng Lâm Thịnh vào dịp lễ Tình nhân năm ngoái.

    Bàn tay đó dừng lại bên ngoài vài giây, như đang thăm dò điều gì đó.

    Rồi thụt vào.

    Cửa tủ lại đóng lại.

    Toàn bộ quá trình chưa đến mười lăm giây.

    Tôi nhìn màn hình điện thoại, không nói được lời nào.

    Là Lâm Thịnh.

    Thật sự là anh ta.

    Chồng tôi, bố của Đóa Đóa, giám đốc dự án của công ty công nghệ – Lâm Thịnh.

    Nói là đi công tác Thượng Hải ba tháng, thực chất là trốn trong tủ quần áo nhà mình suốt sáu mươi ngày.

    Trong khi tôi ngày ngày nấu nướng, dọn dẹp, ngủ nghỉ, tắm rửa trong ngôi nhà này.

    Anh ta lại ở trong cái tủ cách tôi chỉ ba mét.

    Nhìn tôi, hoặc nghe tôi.

    Điện thoại trượt khỏi tay, rơi uỵch xuống bàn trà.

    Tôi không khóc, cũng không hét.

    Chỉ thấy dạ dày quặn lên, muốn nôn.

    Thật kinh tởm.

    Không còn là sự sợ hãi nữa, mà là sự tởm lợm trào ra từ tận trong xương tủy.

    Điện thoại reo.

    Cuộc gọi từ mẹ chồng tôi, Triệu Tú Lan.

    Tôi nhìn chằm chằm vào cái tên trên màn hình mất ba giây rồi bắt máy.

    “Tô Vãn, hôm nay conkhông đi làm à?”

    Giọng bà ta mang vẻ dò xét hờ hững.

    “Con xin nghỉ, người hơi mệt.”

    “Ồ, ở nhà một mình à?”

    “Vâng.”

    “Hôm qua mẹ qua nhà hai đứa một chuyến, mang cho Đóa Đóa ít bánh.” Triệu Tú Lan khựng lại một chút, “Con không có nhà, mẹ tự lấy chìa khóa mở cửa.”

    “Con biết rồi, Đóa Đóa có kể với con.”

    “Con bé đó đúng là lẻm mép.” Triệu Tú Lan cười một tiếng.

    “Mẹ, mẹ còn nói gì với con bé nữa không?”

    “Nói gì là nói gì?”

    “Đóa Đóa bảo mẹ nói với con bé, nếu không có con, Lâm Thịnh có thể sống tốt hơn.”

    Đầu dây bên kia im lặng hai giây.

    “Trẻ con nghe nhầm thôi, sao mẹ lại nói kiểu đấy được.” Giọng Triệu Tú Lan đổi khác, mang theo một tia mất kiên nhẫn.

    “Cô đừng có trẻ con nói gì cũng tin, đứa trẻ năm tuổi thì biết cái gì.”

    “Đúng vậy, trẻ con năm tuổi thì biết cái gì.” Tôi lặp lại lời bà ta.

    Nhưng trong lòng lại nghĩ: Trẻ con năm tuổi không biết nói dối, nhưng người lớn thì biết.

    Cúp điện thoại, tôi nhìn cánh cửa tủ đóng im lìm trên màn hình camera.

    Chương 3:

    Triệu Tú Lan biết.

    Hôm qua bà ta đến nhà, không phải để đưa bánh.

    Mà là để làm việc khác.

    Có lẽ là để tiếp tế đồ ăn cho người trong tủ.

    Tôi mở lịch trên điện thoại, lật xem lại ghi chép hai tháng gần đây.

    Triệu Tú Lan đã đến đây bốn lần.

    Lần nào cũng vào lúc tôi đi làm, Đóa Đóa ở trường mẫu giáo.

    Lần nào cũng không báo trước cho tôi.

    Trước đây tôi cứ nghĩ bà ta qua dọn dẹp nhà cửa, bổ sung chút đồ dùng sinh hoạt.

    Bây giờ nghĩ lại, lượng thức ăn vơi đi có lẽ không phải vì Triệu Tú Lan lấy đồ ăn thừa mang về.

    Mà là vì bà ta mang đồ vào.

    Mang cho người trong tủ.

    Buổi chiều trên đường đi đón Đóa Đóa tan học, tôi lại nhận được điện thoại của Lâm Thịnh.

    “Ninh Ninh, sao hôm nay em không đi làm? Anh gọi điện đến cơ quan em hỏi rồi.” Giọng anh ta có vẻ quan tâm nhưng lại lẫn theo chút căng thẳng nhỏ xíu.

    Tôi nắm chặt vô lăng.

    Anh ta gọi đến cơ quan tôi hỏi sao?

    “Em hơi sốt, xin nghỉ một ngày.”

    “Đã đi viện khám chưa? Hay để anh bảo mẹ sang chăm em nhé?”

    “Không cần đâu.”

    “Em ở nhà một mình anh không yên tâm…”

    “Em nói không cần.”

    Giọng tôi cứng hơn bình thường một chút.

    Đầu dây bên kia im lặng một thoáng.

    “Sao thế? Không vui à?”

    “Không, chỉ là đau đầu, không muốn nói chuyện.”

    “Thế em nghỉ ngơi sớm đi, anh cúp đây.”

    Cúp máy, tôi nhìn con gái ở ghế sau qua gương chiếu hậu.

    Con bé đang chơi với con thỏ nhồi bông, không để ý đến tôi.

    “Đóa Đóa, hôm nay có ai gọi điện cho con không?”

    “Không ạ.”

    “Thế bố thì sao? Bố có gọi vào đồng hồ thông minh của con không?”

    Đóa Đóa nghiêng đầu suy nghĩ, “Hôm qua bố có gọi, hôm nay thì không.”

    “Hôm qua bố nói gì?”

    “Bố hỏi mẹ đang làm gì, có ai đến nhà không.”

    Tay tôi khẽ run lên.

    “Con trả lời thế nào?”

    “Con bảo mẹ đang nấu cơm, không có ai đến, chỉ có bà nội đến thôi.”

    “Bố còn nói gì nữa không?”

    “Bố bảo con ngoan, đừng nói với mẹ chuyện bố gọi điện.” Đóa Đóa bĩu môi, “Nhưng con thấy không đúng, mẹ cũng muốn nghe điện thoại của bố mà.”

    Tôi nhìn con bé qua gương chiếu hậu mỉm cười, một nụ cười mà khóe miệng cũng đang co giật.

    “Lần sau bố gọi điện, con đều phải nói cho mẹ biết nhé.”

    “Vâng ạ.”

    Về đến nhà, tôi kiểm tra nhật ký cuộc gọi trên điện thoại của mình.

    Không có lịch sử gọi cho đồng hồ của Đóa Đóa.

    Nhưng Đóa Đóa nói anh ta có gọi.

    Chỉ có một khả năng – anh ta đã dùng điện thoại của tôi để gọi, sau đó xóa lịch sử.

    Vào lúc tôi đang ngủ.

    Điều này có nghĩa là anh ta không chỉ ở lỳ trong tủ.

    Anh ta có thể tự do ra vào.

    Có thể lấy điện thoại của tôi.

    Có thể xóa nhật ký cuộc gọi.

    Thậm chí có thể đã xem WeChat, tin nhắn, và tất cả nội dung trò chuyện của tôi.

    Một luồng khí lạnh chạy dọc từ lòng bàn chân lên.

    Tôi hoàn toàn không có sự riêng tư trong ngôi nhà này.

    Trong khi tôi cứ đinh ninh anh ta đang ở Thượng Hải cách đây hơn một ngàn cây số.

    Ăn tối xong, tôi dỗ Đóa Đóa đi ngủ.

    Con bé nhắm mắt, nhỏ giọng hỏi một câu.

    “Mẹ ơi, khi nào thì bố ra khỏi tủ thế ạ?”

    “Sắp rồi con.”

    Đóa Đóa rất nhanh đã chìm vào giấc ngủ.

    Tôi nhẹ nhàng bước ra khỏi phòng con, đứng ngoài hành lang.

    Cửa phòng ngủ chính chỉ cách đó ba bước chân.

    Tôi bước tới, không đẩy cửa.

    Đối diện với cánh cửa gỗ, tôi dùng giọng nói chỉ đủ cho mình tôi nghe thấy.

    “Lâm Thịnh.”

    Dừng một nhịp.

    “Tôi biết anh đang ở bên trong.”

    “Tôi không biết anh và mẹ anh đang diễn vở kịch gì.”

    “Nhưng tôi không sợ anh đâu.”

    Nói xong, tôi quay người bước đi.

    Không chờ hồi đáp, cũng không muốn nghe.

    Ra đến phòng khách, tôi lấy điện thoại ra, liếc nhìn màn hình camera.

    Cánh cửa tủ hé ra một khe nhỏ.

    Rồi lại đóng lại.

    Anh ta đã nghe thấy.

    Trò chơi đã thay đổi rồi.

    Sáng hôm sau, tôi vẫn đưa Đóa Đóa đi mẫu giáo như bình thường.

    Lần này tôi gọi điện trước cho Hà Vi.

    “Vi Vi, bao giờ cậu về?”

    “Ngày mốt, sao thế? Nghe giọng cậu lạ lắm.”

    “Cậu về rồi nói, chuyện của Lâm Thịnh.”

    “Hai người cãi nhau à?”

    “Còn nghiêm trọng hơn cãi nhau.”

    Hà Vi không gặng hỏi thêm, “Tớ sẽ đổi vé, tối nay về luôn. Cậu gửi Đóa Đóa sang nhà mẹ tớ trước đi, đừng có một mình chịu đựng.”

    “Được.”

    Cúp máy, tôi lái xe đến công ty của Lâm Thịnh.

    Công ty công nghệ Thịnh Viễn, nằm ở tầng mười bảy tòa nhà văn phòng, là một công ty internet quy mô vừa, Lâm Thịnh làm quản lý dự án bộ phận dữ liệu.

    Cô bé lễ tân nhận ra tôi.

    “Chị Lâm, lâu lắm không thấy chị đến.”

    “Chị muốn tìm Lâm Thịnh một chút.”

    “Anh Lâm chuyển công tác sang chi nhánh Thượng Hải rồi mà chị?” Lễ tân lật lật danh sách trên máy tính, “Đi từ đầu tháng ba, đến nay cũng được hai tháng rưỡi rồi.”

    “Đúng rồi, chị muốn tìm ít đồ của anh ấy. Văn phòng của anh ấy còn vào được không?”

    “Đang khóa chị ạ, để em hỏi phòng hành chính giúp chị.”

    Người bên hành chính dẫn tôi lên tầng mười bảy.

    Văn phòng của Lâm Thịnh nằm ở cuối hành lang, cửa khóa, qua lớp kính bên hông có thể nhìn thấy bên trong.

    Màn hình máy tính trên bàn đen ngòm, giá tài liệu trống trơn.

    Chậu cây trầu bà ở góc phòng đã vàng úa một nửa, đất trong chậu khô nứt nẻ.

    Hơn hai tháng không ai chăm sóc.

    Nếu Lâm Thịnh thực sự được công ty cử đi Thượng Hải làm dự án quan trọng, trước khi đi anh ta sẽ không dọn dẹp văn phòng sạch sẽ đến mức này.

    Ít nhất cũng sẽ nhờ đồng nghiệp tưới cây.

    “Trước khi anh Lâm đi Thượng Hải, có biểu hiện gì bất thường không em?” Tôi hỏi người bên hành chính.

    “Dạ…” Cô ấy nghĩ ngợi, “Cũng hơi đột ngột chị ạ, hôm trước vẫn còn đang họp, hôm sau đã bảo là chuyển đi rồi. Do sếp Triệu ký duyệt.”

    Chương 4:

    “Quan hệ giữa sếp Triệu và anh ấy thế nào?”

    “Khá tốt ạ, sếp Triệu rất trọng dụng anh ấy.”

    Tôi muốn tìm sếp Triệu, nhưng được báo là hôm nay sếp đi vắng.

    Ra khỏi tòa nhà văn phòng, tôi ngồi trong xe tra cứu vài thứ.

    Đầu tiên là mở ứng dụng ngân hàng, kiểm tra lịch sử tiêu dùng thẻ tín dụng của Lâm Thịnh.

    Tôi có quyền sử dụng thẻ phụ của anh ta, nên có thể xem được sao kê.

    Các khoản chi tiêu trong hai tháng qua đều tập trung ở Thượng Hải.

    Khách sạn, nhà hàng, cửa hàng tiện lợi.

    Trông có vẻ đúng là một người đang sống ở Thượng Hải thật.

    Nhưng tôi nhìn kỹ lại các con số.

    Khách sạn mỗi ngày 328 tệ, không sai một ngày nào.

    Cửa hàng tiện lợi tiêu từ 45 đến 50 tệ vào khoảng 9 rưỡi tối mỗi ngày.

    Nhà hàng thì loanh quanh khu vực đường Nguyệt Hà.

    Quá quy củ.

    Một người thực sự đi công tác xa không thể ngày nào cũng ở một khách sạn cùng mức giá, không thể tối nào 9 rưỡi cũng đi đúng một cửa hàng tiện lợi.

    Trừ khi những khoản chi tiêu này là giả mạo.

    Nhờ người quẹt hộ, hoặc dùng cách nào đó để tạo ra giao dịch từ xa.

    Tôi chụp màn hình lưu lại toàn bộ dữ liệu.

    Sau đó, tôi lại tra cứu tiền điện nước và khí đốt.

    Từ tháng ba, tiền nước tăng 18%, tiền điện tăng 25%, khí đốt tăng 20%.

    Lượng sử dụng của hai người lớn và một trẻ nhỏ trước đây, bây giờ trên danh nghĩa chỉ còn tôi và Đóa Đóa.

    Chi phí không giảm mà còn tăng.

    Con số không biết nói dối.

    Trong nhà luôn có người thứ ba.

    Buổi chiều lúc tôi đi đón Đóa Đóa, lại chạm mặt một bất ngờ.

    Triệu Tú Lan đang đứng trước cổng trường mẫu giáo.

    “Tô Vãn.” Bà ta nhìn thấy tôi, trên mặt nở nụ cười giả lả.

    “Mẹ? Sao mẹ lại đến đây?”

    “Mẹ nhớ Đóa Đóa quá, đến đón con bé về nhà ăn cơm.”

    “Không cần đâu, con mua đồ ăn xong hết rồi.”

    Nụ cười của Triệu Tú Lan khựng lại.

    “Cô xem kìa, tôi làm bà nội muốn ăn bữa cơm với cháu gái cũng không được sao?”

    Tôi không nhượng bộ.

    “Hôm khác đi mẹ, hôm nay Đóa Đóa có bài tập vẽ phải làm.”

    Triệu Tú Lan nhìn tôi, nụ cười dần tắt.

    “Tô Vãn, mẹ nói với con chuyện này.”

    “Mẹ nói đi.”

    “Lâm Thịnh ở Thượng Hải rất vất vả, cô một mình ở nhà cũng cáng đáng không nổi. Mẹ nghĩ hay là để Đóa Đóa sang ở với mẹ một thời gian, giảm bớt gánh nặng cho cô.”

    Tôi nắm tay Đóa Đóa, các ngón tay siết chặt lại.

    “Không cần đâu, con tự chăm sóc con bé được.”

    “Cô suốt ngày đi làm, ném con bé ở trường mẫu giáo cả ngày, đón về cũng chẳng ngó ngàng tới…”

    “Mẹ,” tôi ngắt lời bà ta, “Đóa Đóa là con gái con, con chăm sóc con bé là việc của con.”

    Sắc mặt Triệu Tú Lan thay đổi.

    “Cô có ý gì? Tôi là bà nội nó, tôi không có quyền quản à?”

    “Con không có ý đó, ý con là mẹ không cần phải lo lắng.”

    Đóa Đóa ngẩng đầu nhìn hai chúng tôi, hơi căng thẳng kéo gấu áo tôi.

    Triệu Tú Lan lườm tôi vài giây, “Được, vậy cô tự lo cho tốt đi.”

    Nói rồi bà ta quay lưng bước đi.

    Đi được vài bước lại quay đầu lại.

    “À phải rồi, dạo này ở nhà có gì bất thường không?”

    Câu nói này làm tôi sởn gai ốc.

    “Không có, mọi thứ đều bình thường.”

    “Thế thì tốt.”

    Triệu Tú Lan đi khuất, tôi đứng tại chỗ, nhìn bóng bà ta biến mất ở ngã tư.

    Bà ta đang dò xét tôi.

    Bà ta muốn mang Đóa Đóa đi, vì Đóa Đóa biết bí mật của Lâm Thịnh.

    Bọn họ sợ Đóa Đóa sẽ tiếp tục kể với tôi.

    Về đến nhà, tôi ngồi cùng Đóa Đóa vẽ tranh.

    Con bé vẽ một bức tranh, trên đó có một cái tủ rất lớn, trong tủ vẽ một người.

    Bên cạnh hình người đó có chú thích hai chữ viết nguệch ngoạc: Bố.

    Tôi nhìn bức tranh đó, trầm ngâm rất lâu.

    “Đóa Đóa, bức tranh này cho mẹ được không?”

    “Vâng ạ.”

    Tôi gấp gọn bức tranh, cất vào túi xách.

    Tám giờ tối, Đóa Đóa đang ngồi ngoài phòng khách đọc truyện tranh.

    Điện thoại của Lâm Thịnh gọi tới.

    “Ninh Ninh, mẹ bảo hôm nay đến đón Đóa Đóa mà em không cho đón à?”

    “Đóa Đóa có bài tập, em tự trông được rồi.”

    “Em cứ để mẹ giúp một tay đi, mẹ cũng có lòng tốt mà.”

    “Bà ấy có lòng tốt gì em rõ lắm.”

    “Em có ý gì?” Giọng Lâm Thịnh lạnh đi một độ.

    “Hôm qua mẹ anh nói với Đóa Đóa, nếu không có em thì anh có thể sống tốt hơn. Anh thấy câu đó có hợp lý không?”

    Đầu dây bên kia im lặng.

    “Mẹ anh không có ý đó…”

    “Thế là ý gì?”

    “Được rồi được rồi, để anh nói lại với mẹ.” Lâm Thịnh đáp qua quýt, rồi chuyển chủ đề.

    “Dạo này ở nhà không có chuyện gì chứ?”

    “Không có.”

    “Cửa nẻo khóa chốt vẫn tốt chứ?”

    “Vẫn tốt, anh hỏi chuyện này làm gì?”

    “Anh hỏi bâng quơ thế thôi, em ở nhà một mình trông con nhớ chú ý an toàn.”

    Câu này thốt ra từ miệng anh ta, nghe thật sự nực cười.

    Trong nhà tôi đang giấu một kẻ, kẻ đó chính là anh.

    Anh bảo tôi chú ý an toàn?

    “Em rất an toàn.” Tôi nói, “Anh cũng thế.”

    Cúp điện thoại, tôi mở ứng dụng camera.

    Từ hai đến ba giờ chiều hôm nay, cửa tủ quần áo đã mở ra một lần.

    Băng ghi hình cho thấy nửa thân trên của một người từ trong tủ thò ra.

    Mặc áo thun xám, tóc ngắn, góc nghiêng.

    Là Lâm Thịnh, không còn nghi ngờ gì nữa.

    Anh ta ra khỏi tủ, đứng dậy vận động gân cốt một chút.

    Sau đó bước đến cửa sổ, hé rèm nhìn ra ngoài một cái.

    Tiếp đến là vào nhà vệ sinh – camera không quay được nhà vệ sinh, nhưng có thể nghe thấy tiếng nước.

    Khoảng mười phút sau, anh ta quay lại trước tủ, kéo ngăn kéo lục lọi đồ đạc.

    Chương 5:

    Rồi lại chui vào trong.

    Đóng cửa tủ lại.

    Toàn bộ quá trình động tác rất thành thục, như thể đã làm hàng trăm lần.

    Tôi lưu đoạn video đó thành ba bản. Một bản trong điện thoại, một bản trên đám mây, một bản gửi cho Hà Vi.

    Hà Vi nhắn lại ngay lập tức: CÁI QUÁI GÌ THẾ NÀY???

    Tôi nhắn lại: Ngày mai gặp rồi nói.

    Sau đó tôi tắt điện thoại.

    Đứng giữa phòng khách, nhìn về phía phòng ngủ chính.

    Bây giờ tôi đã có bằng chứng rồi.

    Nhưng tôi không vội lật bài ngửa.

    Tôi cần biết rốt cuộc anh ta đang âm mưu chuyện gì.

    Trốn trong tủ quần áo suốt sáu mươi ngày, dựng lên màn kịch đi công tác giả, cả ngày giám sát tôi.

    Không thể không có lý do.

    Đằng sau chuyện này chắc chắn còn điều gì đó mà tôi chưa biết.

    Trưa hôm sau, Hà Vi từ tỉnh khác vội vã chạy về.

    Ngồi trong xe tôi, xem xong đoạn video đó, mặt cô ấy xám ngoét.

    “Tô Vãn, chồng cậu bị bệnh à?”

    “Có khi có bệnh thật.”

    “Báo cảnh sát, báo ngay đi.”

    “Báo thế nào? Chồng tớ ở trong chính nhà của tớ?”

    Hà Vi nghẹn họng.

    “Vậy cậu định làm thế nào?”

    “Phải tra xem tại sao anh ta lại làm vậy đã.” Tôi khởi động xe.

    “Tớ đã đến công ty anh ta, bên đó bảo anh ta được điều sang chi nhánh Thượng Hải, nhưng tình trạng văn phòng không giống như chuyển công tác bình thường.”

    “Cậu nghĩ anh ta căn bản không đi Thượng Hải?”

    “Lịch sử quẹt thẻ tín dụng quá giả.” Tôi đưa ảnh chụp màn hình cho cô ấy.

    Hà Vi xem từng mục, càng xem càng thấy không đúng.

    “Cùng một giờ, cùng một số tiền mỗi ngày? Đây là robot quẹt thẻ à.”

    “Nên anh ta vẫn luôn ở nhà. Hoàn toàn không có chuyến công tác nào, cũng không có Thượng Hải nào hết.”

    “Vậy anh ta ở lỳ trong tủ quần áo hai tháng trời? Sống kiểu gì?”

    “Mẹ anh ta định kỳ đến đưa đồ. Đồ ăn trong tủ lạnh cũng hao hụt. Chắc chắn anh ta tranh thủ lúc tớ không có nhà để ra ngoài hoạt động, ăn uống, tắm rửa.”

    “Vậy ban ngày cậu đi làm, anh ta có cả đống thời gian.” Hà Vi càng nghĩ càng thấy sợ.

    “Đợi đến tối cậu về thì anh ta lại chui vào đó?”

    “Đúng thế. Đóa Đóa có lúc nửa đêm tỉnh dậy thấy anh ta ra ngoài uống nước.”

    Hà Vi bụm miệng.

    “Chồng cậu là kẻ biến thái à?”

    “Tớ không biết anh ta là cái loại gì.” Tôi nắm chặt vô lăng, khớp ngón tay lại trắng bệch.

    “Nhưng tớ biết chuyện này không chỉ một mình anh ta có thể làm được. Triệu Tú Lan chắc chắn có nhúng tay vào.”

    “Mẹ chồng cậu?”

    “Dạo này bà ta có biểu hiện bất thường, cứ đòi đón Đóa Đóa đi, còn chặn tớ ở cổng trường mẫu giáo nữa. Vì Đóa Đóa đã kể chuyện này cho tớ, bà ta sợ.”

    Hà Vi im lặng một lúc.

    “Ninh Ninh, cậu có nghĩ đến một khả năng này không?”

    “Cậu nói đi.”

    “Bọn họ đang thu thập điểm yếu của cậu.”

    Tôi quay sang nhìn cô ấy.

    “Cậu thử nghĩ xem, Lâm Thịnh trốn ở nhà, có thể thấy mọi thứ cậu làm. Cậu giặt quần áo bao nhiêu lần, mấy giờ đi ngủ, có ai đến nhà không.”

    “Nếu cậu có bất kỳ hành vi ‘không đứng đắn’ nào, anh ta sẽ có bằng chứng.”

    “Rồi sao nữa?”

    “Rồi ly hôn, giành quyền nuôi con, chia tài sản.” Hà Vi nhấn mạnh từng chữ, “Chẳng phải mẹ chồng cậu luôn chướng mắt cậu sao? Nếu có thể tìm được bằng chứng cậu ngoại tình hoặc bỏ bê con cái…”

    “Tớ không ngoại tình.” Tôi lập tức nói.

    “Tớ biết, nhưng có thể họ đang đợi cậu mắc sai lầm, hoặc tạo cơ hội để cậu mắc sai lầm.”

    Tôi không nói gì.

    Suy đoán của Hà Vi giống như một gáo nước lạnh dội xuống.

    Nếu họ thực sự đang lên kế hoạch ly hôn, đang thu thập bằng chứng bất lợi cho tôi.

    Vậy thì sáu mươi ngày ẩn nấp kia hoàn toàn hợp lý.

    “Tớ phải đi kiểm tra một thứ.” Đột nhiên tôi bẻ lái.

    “Kiểm tra gì?”

    “Xe của Lâm Thịnh.”

    Xe của Lâm Thịnh vẫn đỗ dưới hầm để xe của khu chung cư, anh ta nói đã đỗ sẵn trước khi đi công tác.

    Tôi có chìa khóa dự phòng.

    Hầm xe ánh sáng mờ ảo, chiếc Volkswagen Passat màu đen của Lâm Thịnh đỗ đúng chỗ cố định, thân xe phủ một lớp bụi.

    Mở cửa xe, bên trong sạch sẽ đến mức không bình thường.

    Trước đây xe của Lâm Thịnh lúc nào cũng vứt đồ lung tung, chai nước khoáng, khăn giấy, dây sạc rải rác khắp nơi.

    Bây giờ không có gì cả, giống như đã bị ai đó dọn dẹp.

    Tôi mở hộp đựng găng tay.

    Bên trong có một phong bì giấy xi măng.

    Tôi lấy ra, mở xem.

    Là một xấp tài liệu in.

    Dòng tiêu đề ở trang đầu tiên làm máu tôi dồn hết lên não.

    《Thỏa thuận ly hôn (Bản thảo)》.

    Ngày ghi là 27 tháng 2 năm nay.

    Lâm Thịnh “đi công tác” vào ngày 1 tháng 3.

    Nghĩa là, anh ta đã soạn xong thỏa thuận ly hôn từ hai ngày trước khi rời đi.

    Tôi lướt nhanh nội dung.

    Nhà cửa thuộc về nhà trai.

    Quyền nuôi con gái thuộc về nhà trai.

    Nhà gái nhận được 15 vạn tệ tiền đền bù.

    15 vạn.

    Căn nhà này trả trước 50 vạn, trong đó 30 vạn là tiền của bố mẹ tôi. Tiền trả góp hàng tháng hai người cùng gánh suốt năm năm, tôi chịu 60%.

    Anh ta muốn dùng 15 vạn để đuổi tôi đi?

    Trong phong bì còn một tờ giấy viết tay, chữ của Lâm Thịnh.

    Trên đó liệt kê một danh sách –

    “1. Cố định bằng chứng: Nhật ký ra ngoài ban đêm/Thời gian không có nhà/Các mối quan hệ xã hội.

    Việc sinh hoạt của Đóa Đóa do mẹ tiếp quản, tạo thành thói quen.
    Xác nhận sao kê ngân hàng, thay đổi tên sổ đỏ.
    Liên hệ luật sư Lưu, chuẩn bị hồ sơ khởi kiện.
    Giai đoạn ba: Lật bài ngửa.”
    Tôi đọc từng dòng một.

    Mỗi một dòng đều như một nhát dao.

    Anh ta thực sự đang lên kế hoạch ly hôn.

    Anh ta trốn trong tủ quần áo, không phải là phát điên, không phải là trò chơi.

    Là đang thực thi kế hoạch.

    Triệu Tú Lan thường xuyên đến đón Đóa Đóa – là điều số 2, để Đóa Đóa quen với việc sống cùng bà nội.

    Tạo hiện trường giả đi Thượng Hải công tác – là để mọi người tưởng anh ta ở xa, thực chất là ngấm ngầm thu thập bằng chứng.

    Những câu hỏi han tôi dạo này có đi đâu không, có ai đến không – là điều số 1, ghi chép lại hành tung và quan hệ của tôi.

    Chương 6-

    Anh ta muốn chứng minh tôi là một người vợ, một người mẹ không đủ tư cách.

    Sau đó lấy đi toàn bộ nhà cửa và con cái.

    “Suỵt–” Hà Vi đọc xong tờ danh sách đó, hít một ngụm khí lạnh.

    “Tô Vãn, chồng cậu không phải biến thái, mà là rắn độc.”

    Tôi không nói gì, tiếp tục lật tìm.

    Dưới cùng của phong bì còn một tấm danh thiếp.

    Luật sư Lưu Kiến Quốc. Văn phòng luật sư nào đó, chuyên kiện tụng hôn nhân.

    Mặt sau viết một dòng chữ bằng bút chì: Mẹ giới thiệu, tỷ lệ thắng cao, phí tính riêng.

    Luật sư do Triệu Tú Lan giới thiệu.

    Tôi chụp lại toàn bộ, rồi đặt mọi thứ về chỗ cũ.

    Đóng hộp đựng găng tay, đóng cửa xe.

    Đứng trong hầm xe, đột nhiên tôi thấy trời đất quay cuồng.

    Bảy năm.

    Từ lúc yêu đến lúc cưới đến lúc sinh Đóa Đóa, bảy năm.

    Tôi từng nghĩ anh ta chỉ là lạnh nhạt, chỉ là thiếu lãng mạn, chỉ là bị ảnh hưởng từ mẹ anh ta.

    Tôi luôn tìm cớ để bao biện cho anh ta.

    Hóa ra từ đầu đến cuối, trong cuộc hôn nhân này tôi chỉ là một con rối bị dắt mũi.

    Hà Vi ôm lấy tôi từ phía sau.

    “Ninh Ninh, đừng nhịn nữa, khóc ra đi.”

    Tôi không khóc.

    Mắt khô rốc đến phát đau.

    “Không khóc.” Tôi nói.

    “Khóc không giải quyết được gì, anh ta muốn chơi theo kế hoạch, tớ sẽ chơi cùng anh ta.”

    “Điều số 5 trong thỏa thuận ly hôn của anh ta viết gì?”

    “Lật bài ngửa.”

    “Anh ta vẫn chưa đến điều số 5 đúng không?”

    “Nhìn tình hình thì chưa, vẫn đang ở giai đoạn một.”

    “Vậy thì tốt, trước khi anh ta lật bài, tớ sẽ chuẩn bị xong mọi thứ.”

    “Anh ta muốn tớ ra đi tay trắng?”

    “Nằm mơ đi.”

    Ra khỏi hầm xe, ánh nắng có chút chói mắt.

    Tôi nheo mắt nhìn lên bầu trời.

    “Tiếp theo sẽ làm ba việc.” Tôi nói với Hà Vi.

    “Một, tìm luật sư. Không tìm tay luật sư kia của anh ta, tìm người giỏi hơn.”

    “Hai, điều tra xem anh ta thực sự được công ty điều đi Thượng Hải, hay là đã bị sa thải rồi.”

    “Ba, điều tra xem anh ta có người phụ nữ khác không.”

    Hà Vi ngớ người.

    “Cậu nghĩ anh ta ngoại tình?”

    “Anh ta muốn ly hôn với tớ, không thể chỉ vì mẹ anh ta không thích tớ. Thế thì không đáng. Trừ khi bên ngoài đã có người khác.”

    Tôi lấy điện thoại ra, tìm một số liên lạc.

    Chị Trương, vợ của thầy Lưu hồi đại học. Em trai của chị Trương làm thám tử tư.

    Trước đây tôi cứ nghĩ mình sẽ không bao giờ dùng đến mối quan hệ này.

    Bây giờ mới thấy đáng giá.

    Gọi điện qua, tôi nói ngắn gọn yêu cầu.

    Bên kia rất chuyên nghiệp: Ba ngày có kết quả, phí 5.000 tệ.

    “Được.”

    Hà Vi đứng cạnh nói nhỏ: “Để tớ trả khoản này cho.”

    “Không cần, tớ có tiền tiết kiệm.”

    “Cậu… có bao nhiêu?”

    Tôi nhìn cô ấy, không trả lời.

    Điều mà Hà Vi không biết là, những năm qua tôi vẫn luôn lén lút tiết kiệm tiền. Tiếng là lương tháng 8.000 tệ, nhưng thời gian rảnh tôi làm vẽ minh họa và thiết kế đồ họa tự do. Khoản thu nhập này tôi để riêng vào một thẻ, cả Lâm Thịnh và Triệu Tú Lan đều không biết.

    Trong thẻ có 23 vạn tệ.

    Cộng với quỹ nhà ở và một số khoản đầu tư, tổng cộng khoảng 30 vạn.

    Không tính là nhiều, nhưng đủ để cho tôi sự tự tin.

    Tối hôm đó, tôi không về phòng ngủ chính ngủ.

    Tiếp tục chen chúc trong phòng nhỏ với Đóa Đóa.

    Khóa chặt cửa, tôi nhìn màn hình camera.

    1 giờ 17 phút sáng, cửa tủ mở.

    Lâm Thịnh bước hẳn ra ngoài.

    Anh ta mặc áo phông trắng và quần thể thao, tóc hơi dài, gầy đi một vòng so với hai tháng trước.

    Trong màn hình mờ tối, anh ta đứng giữa phòng vươn vai vận động tay chân.

    Sau đó bước ra khỏi phòng ngủ chính.

    Tim tôi thót lên.

    Tôi mở một góc máy khác – buổi chiều tôi cũng lắp một camera ngoài phòng khách, giấu trong bình hoa giả trên kệ tivi.

    Trên màn hình, Lâm Thịnh đi vào bếp.

    Mở tủ lạnh, lấy một hộp sữa, bóc ra uống vài ngụm.

    Lại lấy thêm hai lát bánh mì.

    Sau đó anh ta đi ra phòng khách, ngồi xuống sofa.

    Móc ra một chiếc điện thoại.

    Không phải chiếc anh ta vẫn dùng hàng ngày, là một chiếc khác, màu vàng hồng.

    Kiểu dáng của nữ.

    Anh ta mở khóa rất thành thục, xem vài dòng tin nhắn.

    Khóe miệng hơi cong lên.

    Chương 7:

    Sau đó anh ta làm một việc khiến tôi càng thấy ghê tởm hơn.

    Anh ta bước đến cửa phòng nhỏ.

    Chính là căn phòng tôi và Đóa Đóa đang ngủ.

    Áp tai vào cửa nghe ngóng vài giây.

    Rồi quay người đi vào nhà vệ sinh.

    Mười phút sau, anh ta quay lại phòng ngủ chính, chui vào tủ.

    Cửa tủ đóng lại.

    Mọi thứ trở lại yên tĩnh.

    Tôi nhìn thời gian trên màn hình.

    Từ 1:17 đến 1:42 sáng.

    Hai mươi lăm phút.

    Anh ta hoạt động trong nhà tôi suốt hai mươi lăm phút như một bóng ma.

    Còn tôi và con gái thì ngủ chỉ cách đó một cánh cửa.

    Tôi lưu lại toàn bộ video đêm nay.

    Sau đó gửi cho Hà Vi bốn chữ: Có người phụ nữ khác.

    Hà Vi nhắn lại một chữ: Khốn nạn.

    Sáng hôm sau, tôi đi gặp luật sư.

    Không phải luật sư bình thường, là luật sư Tiêu Bình do chị Trương giới thiệu.

    Chuyên đánh án ly hôn, tỷ lệ thắng nằm trong top ba của thành phố.

    Văn phòng của luật sư Tiêu nằm ở tầng cao nhất của tòa nhà trung tâm thành phố, khu vực tiếp khách được bài trí như một câu lạc bộ cao cấp.

    Bản thân anh ta trạc tứ tuần, đeo kính gọng vàng, nói chuyện không nhanh không chậm, nhưng câu nào cũng sắc bén như dao mổ.

    Tôi bày toàn bộ bằng chứng ra trước mặt anh ta.

    Video camera, ảnh chụp sao kê tiêu dùng, ảnh chụp bản thảo thỏa thuận ly hôn, bảng so sánh hóa đơn điện nước.

    Luật sư Tiêu xem từng thứ một, ánh mắt sau tròng kính ngày càng sáng lên.

    “Cô Tô, cô bắt đầu nghi ngờ từ khi nào?”

    “Sáu ngày trước.”

    “Sáu ngày mà đã chuẩn bị được nhiều thứ thế này?” Anh ta gật đầu, “Cô bình tĩnh hơn hầu hết thân chủ của tôi đấy.”

    “Tôi không có thời gian để hoang mang.”

    “Nói về yêu cầu của cô đi.”

    “Con gái thuộc về tôi, nhà thuộc về tôi, anh ta ra đi tay trắng.”

    Luật sư Tiêu mỉm cười.

    “Trong bản thỏa thuận của chồng cô viết ngược lại đấy.”

    “Nên tôi mới cần anh lật ngược nó lại.”

    “Được.” Luật sư Tiêu giơ ba ngón tay lên.

    “Thứ nhất, đoạn video anh ta trốn trong nhà là bằng chứng cốt lõi. Nó chứng minh anh ta lừa dối dài hạn, xâm phạm quyền được biết và quyền riêng tư của cô, đồng thời chứng minh chuyện đi công tác là giả mạo.”

    “Thứ hai, bản thảo thỏa thuận ly hôn đó cho thấy tính toán có dự mưu. Kết hợp với việc mẹ chồng cô muốn đón đứa trẻ đi, có thể cấu thành hành vi thông đồng giành quyền nuôi con.”

    “Thứ ba, cũng là quan  trọng nhất – nếu chứng minh được anh ta ngoại tình, thì cô sẽ chiếm ưu thế tuyệt đối trong việc phân chia tài sản và quyền nuôi con.”

    “Cái điện thoại màu vàng hồng kia có đủ không?”

    “Chỉ nhìn video thì không thấy rõ nội dung, cần bằng chứng trực tiếp hơn.” Luật sư Tiêu tựa lưng vào ghế.

    “Tin nhắn, lịch sử thuê phòng, sao kê chuyển khoản, bất kỳ cái nào cũng được.”

    “Tôi đã nhờ người đi điều tra rồi.”

    “Rất tốt.”

    “Ngoài ra,” tôi ngập ngừng một chút, “tôi muốn xác nhận một chuyện. Rốt cuộc anh ta thực sự được công ty cử đi Thượng Hải, hay là đã bị sa thải rồi.”

    “Cô nghi ngờ anh ta thất nghiệp?”

    “Văn phòng của anh ta hai tháng không ai ngó ngàng, cây cối chết khô hết rồi. Chuyển công tác bình thường sẽ không như thế.”

    “Nếu thực tế anh ta đã thất nghiệp thì càng có lợi. Điều đó cho thấy anh ta giấu giếm biến cố lớn của gia đình trong thời gian dài, nền tảng kinh tế lại không ổn định, tranh quyền nuôi con sẽ càng yếu thế.”

    Vừa ra khỏi văn phòng luật sư, tôi nhận được tin nhắn của công ty thám tử.

    “Lâm Thịnh, 33 tuổi. Giám đốc dự án bộ phận dữ liệu công ty công nghệ Thịnh Viễn. Bị công ty sa thải vào ngày 28 tháng 2 năm nay, lý do là vi phạm nghiêm trọng quy chế tài chính của công ty, bị tình nghi biển thủ quỹ dự án. Công ty không báo cảnh sát mà xử lý nội bộ. Hai bên đã ký thỏa thuận bảo mật.”

    “Từ ngày 1 tháng 3, công ty Thịnh Viễn thông báo ra bên ngoài là ‘chuyển sang chi nhánh Thượng Hải’, do tổng giám đốc công ty là ông Triệu chỉ thị, không rõ nguyên nhân.”

    Đọc xong tin nhắn, tôi đứng sững lại nửa phút.

    Bị sa thải.

    Vì tội biển thủ công quỹ.

    Không phải đi công tác, không phải chuyển bộ phận.

    Là bị đuổi việc.

    Sau đó anh ta bịa ra lời nói dối đi Thượng Hải, lừa dối tất cả mọi người, kể cả tôi.

    Công ty bao che cho anh ta, vì sếp Triệu có quan hệ cá nhân với anh ta.

    Điều này đã giải thích được rất nhiều chuyện.

    Tại sao anh ta phải trốn trong nhà – vì anh ta không có nơi nào để đi. Không có việc làm, không thể ra khỏi cửa, ra ngoài sẽ bị lộ.

    Tại sao anh ta phải làm giả hóa đơn tiêu dùng – vì phải duy trì màn kịch đi công tác.

    Tại sao Triệu Tú Lan lại thường xuyên đến nhà – vì bà ta biết con trai mất việc, cần đến để tiếp tế lương thực.

    Chương 8:

    Tại sao họ lại lên kế hoạch ly hôn – vì giấy không gói được lửa, thà ra tay trước, lấy đi những gì cần lấy rồi chuồn.

    Mọi thứ đều xâu chuỗi lại với nhau.

    Nhưng còn một thắc mắc.

    Cái điện thoại màu vàng hồng đó.

    Lúc dùng cái điện thoại đó, anh ta đã cười.

    Cái vẻ mặt đó lâu lắm rồi tôi không thấy trên gương mặt anh ta.

    Tin nhắn thứ hai của công ty thám tử đến vào buổi chiều.

    “Dưới tên Lâm Thịnh có mở một thẻ phụ vào tháng 1 năm nay. Chủ thẻ chính: Trần Dao, 27 tuổi, giám đốc kinh doanh của một công ty môi giới bất động sản.”

    “Hai người liên lạc thường xuyên từ tháng 9 năm ngoái. Không thể lấy được lịch sử WeChat, nhưng nhật ký cuộc gọi cho thấy: từ tháng 9 năm ngoái đến nay, hai bên gọi cho nhau 672 lần. Bắt đầu từ tháng 2 năm nay, lượng điện nước tiêu thụ tại một căn hộ đứng tên Trần Dao phù hợp với mức người sinh sống bình thường.”

    “Đính kèm: Trần Dao là con gái của chị họ Triệu Tú Lan.”

    Đọc đến dòng cuối cùng, tôi suýt ném nát điện thoại.

    Trần Dao là cháu của Triệu Tú Lan.

    Triệu Tú Lan đã biết chuyện này ngay từ đầu.

    Thậm chí – mối quan hệ này chính là do bà ta mai mối.

    Chín tháng.

    Chồng tôi và người đàn bà do mẹ chồng giới thiệu đã dan díu với nhau suốt chín tháng.

    672 cuộc gọi.

     Tôi nhẩm lại, trong chín tháng qua, số lần Lâm Thịnh gọi điện cho tôi cộng lại chưa tới một trăm cuộc.

    Hà Vi khi nhìn thấy những thông tin này đã im lặng rất lâu.

    Sau đó cô ấy nói một câu.

    “Tô Vãn, cậu đừng về nhà một mình.”

    “Tớ không về thì đi đâu?”

    “Mẹ chồng và chồng cậu chẳng phải dạng vừa đâu, nhỡ cậu về không kiềm chế được cảm xúc rồi cãi nhau với họ…”

    “Tớ sẽ không cãi nhau.”

    “Sao cậu biết?”

    “Bởi vì chưa đến lúc phải lật bài.”

    Tôi bình tĩnh đến mức chính mình cũng thấy sợ.

    Có lẽ sự phẫn nộ đã đạt đến đỉnh điểm, nên đâm ra lại không còn cảm giác gì nữa.

    Giống như phần da bị thiêu rụi, đến cảm giác đau cũng mất đi.

    “Luật sư Tiêu nói, cần bằng chứng trực tiếp hơn để chứng minh anh ta ngoại tình. Nhật ký cuộc gọi và thẻ phụ chưa đủ.”

    “Thế phải làm sao?”

    “Đợi. Tối nào anh ta cũng chui ra dùng cái điện thoại đó. Chỉ cần tớ tìm được chỗ giấu điện thoại, là có nhật ký trò chuyện.”

    “Cậu định chui vào tủ tìm à?”

    “Không phải bây giờ. Đợi thời cơ.”

    Tối về nhà, tôi vẫn cư xử như thường.

    Nấu cơm, cho Đóa Đóa ăn, tắm cho con, kể chuyện.

    Đợi con ngủ say, tôi ngồi ngoài phòng khách, mở chiếc laptop mà hai tháng trước Lâm Thịnh để lại.

    Anh ta để ở phòng làm việc trước khi “đi công tác”, bảo là máy tính cũ không dùng nữa.

    Khởi động máy, vào hệ thống.

    Tôi thử mật khẩu ba lần: sinh nhật Đóa Đóa, ngày kỷ niệm ngày cưới, sáu số cuối CMND của anh ta.

    Lần thứ ba thì đúng.

    Màn hình desktop rất sạch, chỉ có vài thư mục.

    “Công việc”, “Ảnh”, “Khác”.

    Tôi mở mục “Khác” trước.

     Trong đó có một file nén cài mật khẩu, tên là “Backup”.

    Tôi đoán thử vài cái mật khẩu đều không đúng.

    Thôi bỏ qua, xem cái khác trước.

    Tôi mở lịch sử duyệt web.

    Đa phần đã bị xóa, nhưng trong bộ nhớ đệm vẫn còn sót lại một chút.

    Tôi nhìn thấy những từ khóa anh ta tìm kiếm vào hồi tháng Hai –

    “Làm thế nào để giành quyền nuôi con”, “Cách lấy bằng chứng vợ ngoại tình”, “Tỷ lệ chia tài sản ly hôn”, “Chuyển nhượng nhà đơn phương”, “Bác sĩ tâm lý giám định tình trạng tâm thần”.

    Dòng cuối cùng khiến tôi khựng lại.

    Giám định tình trạng tâm thần.

    Anh ta từng tìm kiếm cái này.

    Tại sao?

    Tôi tiếp tục lục tìm.

    Trong trang web lưu ở bộ nhớ đệm, tôi tìm thấy phần sót lại của một bài đăng trên diễn đàn –

    “Nếu chứng minh được vợ/chồng có vấn đề về tâm thần, quyền nuôi con gần như 100% thuộc về người còn lại. Cần ít nhất hai báo cáo giám định từ bác sĩ tâm thần…”

    Tôi gập máy tính lại.

    Những ngón tay lạnh buốt.

    Anh ta không chỉ muốn ly hôn.

    Không chỉ muốn lừa lấy nhà và con.

    Chương 9

    Anh ta còn muốn người khác tưởng tôi bị bệnh tâm thần.

    Đó là lý do anh ta trốn trong tủ.

    Nếu tôi phát hiện ra, đi nói với người khác “chồng tôi trốn trong tủ quần áo” –

    Người bình thường ai mà tin?

    Mọi người sẽ nghĩ tôi phát điên rồi.

    Lúc đó đưa ra tờ giám định tâm thần…

    Thái dương tôi giật bần bật.

    Kế hoạch này thâm độc hơn tôi tưởng tượng.

    Không chỉ đơn giản là ly hôn cướp tài sản.

    Là muốn triệt để hủy hoại tôi.

    Làm tôi mất con, mất nhà, mất danh dự, thậm chí mất luôn cả chứng minh mình là người có suy nghĩ bình thường.

    Và kẻ thao túng lại chính là chồng và mẹ chồng tôi.

    Người mà tôi đã chung sống dưới một mái nhà suốt bảy năm trời.

    Đêm đó tôi không ngủ, ngồi xem camera giám sát suốt đêm.

    Hai giờ sáng, Lâm Thịnh chuẩn bị chui ra.

    Lần này anh ta không chỉ ăn uống.

    Anh ta đi đến cửa phòng làm việc, thử vặn tay nắm.

    Cửa khóa – do tôi cố tình khóa lại từ tối.

    Anh ta đứng trước cửa năm giây, rồi quay người bỏ đi.

    Đi ra phòng khách.

    Từ dưới nệm sofa móc ra một chiếc điện thoại.

    Chính là chiếc màu vàng hồng đó.

    Hóa ra anh ta giấu dưới nệm sofa.

    Anh ta ngồi xuống, cúi đầu gõ chữ, gõ ròng rã suốt bảy phút.

    Giữa chừng còn cười hai lần.

    Rồi anh ta nhét điện thoại vào chỗ cũ, chui lại vào tủ.

     Tôi đợi thêm hai mươi phút, chắc chắn anh ta sẽ không ra nữa.

    Tôi rón rén bước ra phòng khách.

    Chỗ nệm sofa, cái thứ hai từ trái sang.

    Tôi thò tay vào, chạm được chiếc điện thoại.

    Lấy ra, tim đập nhanh đến chóng mặt.

    Màn hình sáng lên, yêu cầu vân tay.

    Thử nhận diện khuôn mặt – tất nhiên là không được.

    Nhập mật khẩu – ngày sinh Đóa Đóa.

    Ngày sinh Trần Dao? Tôi không biết.

    Tôi nhìn hình nền khóa màn hình.

    Là ảnh selfie của một người phụ nữ, tóc dài, cười rất ngọt ngào.

    Trần Dao.

    Hình nền điện thoại của chồng tôi lại là một người đàn bà khác.

    Tôi không có thời gian để đau buồn.

    Tắt màn hình khóa, đặt điện thoại về chỗ cũ.

    Rồi quay lại phòng nhỏ.

    Dùng điện thoại của mình nhắn một tin cho công ty thám tử.

    “Tôi cần ngày sinh của Trần Dao.”

    Ba phút sau có tin nhắn trả lời: “Ngày 17 tháng 6.”

    Tôi đợi đến tối hôm sau, cùng một thời gian, cùng một cách thức.

    2 giờ 15 sáng, Lâm Thịnh chui ra hoạt động, lượn một vòng rồi chui vào lại.

    Tôi đợi nửa tiếng.

    Móc chiếc điện thoại đó ra.

    Nhập mật khẩu 0617.

    Mở khóa thành công.

    WeChat nằm ở vị trí đầu tiên.

    Cuộc trò chuyện được ghim lên đầu: “Anh Thịnh”.

    Tôi hít sâu một hơi, bấm mở.

    Lịch sử trò chuyện kéo dài từ tháng 9 năm ngoái đến tận hôm nay.

    Tin nhắn gần đây nhất là gửi hai tiếng trước –

    Trần Dao: Hôm nay anh bận à?

    Lâm Thịnh: Cũng tàm tạm, tối muộn mới ra được. Cô ta ngủ thì anh mới an toàn.

    Trần Dao: Bao giờ thì kết thúc chuyện này đây, em không muốn đợi nữa.

    Lâm Thịnh: Sắp rồi, luật sư bảo bằng chứng hòm hòm rồi, một hai tuần nữa là lật bài ngửa.

    Trần Dao: Thế còn căn nhà?

    Lâm Thịnh: Yên tâm, mẹ nhờ người lo vụ sổ đỏ rồi, chỉ cần phán quyết ly hôn có hiệu lực là sang tên ngay.

    Trần Dao: Thế còn đứa bé?

    Lâm Thịnh: Quyền nuôi con chắc chắn là của anh, cô ta lương tháng có tám nghìn, nuôi kiểu gì? Với lại mẹ đã liên hệ hai bác sĩ rồi, đến lúc đó cứ bảo tinh thần cô ta không ổn định.

    Trần Dao: Anh thông minh quá đi [Hôn hôn]

    Lâm Thịnh: Đều là chủ ý của mẹ, anh chỉ phụ trách thực thi thôi. Đợi ly hôn xong, chúng mình có thể đường hoàng ở bên nhau rồi.

    Tôi vuốt ngược lên từng tin nhắn.

    Càng đọc càng thấy lạnh người.

    Tin nhắn hồi tháng Mười Một.

    Trần Dao: Chị dâu là người thế nào?

    Lâm Thịnh: Tạm thôi, chỉ là quá nhạt nhẽo. Em thú vị hơn nhiều.

    Trần Dao: Thế sao anh vẫn sống chung?

    Lâm Thịnh: Tạm bợ thôi, vả lại tiền trả trước mua nhà nhà cô ta chịu phần lớn, anh không thể ly hôn bây giờ được.

    Trần Dao: Thế thì đợi lấy được nhà rồi tính [Cười trộm]

    “Chuyện đó không liên quan gì đến cháu nữa.”

    “Mợ biết. Chỉ là muốn báo cho cháu một tiếng thôi.” Bà mợ thở dài.

    “Hai hôm trước nó đến tìm mợ vay tiền, mợ không cho. Đàn ông đàn ang sức dài vai rộng mà làm đến nông nỗi này, thì đừng trách ai.”

    “Còn mẹ nó nữa, hết hạn án treo, cả người già đi chục tuổi. Trước đây ở cái hội của mợ, bà ấy lẻm mép lắm cơ mà, bây giờ ai thấy cũng né.”

    “Chuyện bỏ thuốc đồn ầm lên mà – hạ độc con dâu và cháu gái ruột, ai nghe xong mà chẳng sợ? Người không biết còn tưởng là đang xem phim truyền hình.”

     Tôi không nói gì.

    Tỏi

    “Tô Vãn, cháu làm đúng lắm.” Mợ vỗ vỗ tay tôi.

    “Ngày trước cháu gả vào, mợ đã nhìn ra rồi, Tú Lan có coi cháu ra con người đâu. Cháu nhịn được bảy năm là quá đủ rồi.”

    Đóa Đóa nhảy nhót chạy ra, nhào vào lòng tôi.

    “Mẹ ơi! Hôm nay con vẽ một bức tranh, cô giáo bảo sẽ dán lên tường đấy!”

    “Tranh gì thế con?”

    “Con vẽ nhà mới của mẹ con mình! Có ban công rộng ơi là rộng, còn có Pudding nữa.”

    Pudding là chú mèo nhà chúng tôi mới nuôi.

    “Về nhà mẹ làm đồ ăn ngon cho con nhé.”

    “Vâng ạ!”

    Tôi ôm con đi về phía xe.

    Đi ngang qua bảng thông báo trước cổng trường, trên đó dán một hàng tranh của các bạn nhỏ.

    Chủ đề là “Gia đình em”.

    Bức tranh của Đóa Đóa nằm ở tận cùng bên phải.

     Trong tranh có một ngôi nhà lớn, hai người đang nắm tay nhau đứng trước cửa.

    Một người lớn, một người nhỏ.

    Trống & Nhạc gõ

    Bên cạnh là bốn chữ viết nguệch ngoạc –

    “Mẹ và con”.

    Không có bố, không có tủ quần áo.

    Chỉ có hai mẹ con tôi, đứng dưới ánh mặt trời.

    Thế là quá tuyệt rồi.

    Ba năm sau.

    Doanh thu hàng năm của studio thiết kế Tô Vãn vượt mức 12 triệu tệ.

    Đội ngũ từ một người mở rộng lên mười bốn người.

    Khách hàng được phục vụ lên tới mười bảy thương hiệu.

    Một tạp chí trong ngành đã làm một bài phỏng vấn chuyên đề, tiêu đề là – “Từ mẹ bỉm sữa toàn thời gian đến Nhà thiết kế của năm”.

    Chỉ có một câu hỏi trong buổi phỏng vấn làm tôi khựng lại.

    “Cô Tô, điều gì đã khiến cô quyết định bắt đầu lại từ đầu?”

    Tôi suy nghĩ một lát.

    “Đã từng có người nhốt tôi vào một không gian rất nhỏ. Không phải không gian vật lý, mà là không gian tâm lý. Cho đến một ngày tôi phát hiện ra cánh cửa đó chưa từng bị khóa – chỉ là tự tôi cứ ngỡ mình không thể thoát ra mà thôi.”

    Kết thúc buổi phỏng vấn, tôi đến trường đón Đóa Đóa.

    Con bé đã tám tuổi, buộc tóc đuôi ngựa, chạy đến nhanh như một cơn gió.

    “Mẹ, hôm nay toán con được 100 điểm!”

    “Giỏi quá, thưởng cho con đi ăn lẩu.”

    “Thật không ạ? Thế con muốn gọi chả tôm!”

    Tôi nắm tay con bé, bước đi trong ánh hoàng hôn.

    Điện thoại vang lên một tiếng bíp.

    Là một tin nhắn từ số lạ.

    “Tô Vãn, anh là Lâm Thịnh. Nghe nói giờ em sống rất tốt, chúc mừng em. Anh chỉ muốn nói một câu, xin lỗi. Nếu như thời gian có thể quay lại–”

    Tôi nhìn tin nhắn đúng hai giây.

    Sau đó xóa đi.

    Đóa Đóa ngẩng đầu nhìn tôi.

    “Mẹ, ai nhắn thế ạ?”

    “Tin nhắn rác thôi.”

    “Vâng.”

    “Đi thôi, ăn lẩu nào.”

    “Vâng ạ!”

    Hoàng hôn kéo dài bóng của hai mẹ con tôi.

    Một lớn một nhỏ, rẽ qua góc phố rồi khuất dần.

  • Sau kҺι ƌàп Ьà пgoạιtìпҺ sẽ có 3 cҺỗ ‘t o ra’, cҺồпg пҺìп tҺoáпg qua là Ьιết

    Sau kҺι ƌàп Ьà пgoạιtìпҺ sẽ có 3 cҺỗ ‘t o ra’, cҺồпg пҺìп tҺoáпg qua là Ьιết

    Khi phụ nữ vướng vào mṓi quan hệ ngoài ʟuṑng, họ sẽ có những dấu hiệu rõ ràng ⱪhȏng thể chṓi cãi.

    Hầu hḗt các ᵭȏi ⱪhȏng bao giờ tưởng tượng tình yêu ⱪḗt thúc vì ⱪhȏng chung thủy. Nhưng sự thật ʟà gian dṓi có thể rung chuyển cuộc hȏn nhȃn hạnh phúc nhất.

    “Xã hội thường quan niệm rằng ᵭàn ȏng mới ʟà những ⱪẻ gian ʟận, ᵭàn ȏng dễ ʟừa dṓi, nhưng dữ ʟiệu nghiên cứu ⱪể một cȃu chuyện ⱪhác”, Alicia M. Walker, phó giáo sư xã hội học tại ĐH bang Missouri, Mỹ, nói và ⱪhẳng ᵭịnh tỷ ʟệ ʟừa dṓi bạn ᵭời của phụ nữ tương ᵭương nam giới.

    Vị này cho rằng, người vợ ʟừa dṓi chṑng ⱪhȏng phải chuyện dị thường. Tùy thuộc vào nhóm tuổi, hành vi, ᵭȏi ⱪhi phụ nữ ʟừa dṓi thường xuyên hơn cả ᵭàn ȏng.

    Có nhiḕu ʟý do ⱪhiḗn phụ nữ ʟừa dṓi. Các ȏng chṑng cũng vậy. Cȏ ᵭơn, buṑn chán và rượu có thể ᵭóng vai trò quan trọng. Đȏi ⱪhi, tình ᵭṑng nghiệp thȃn thiḗt bị ᵭưa ᵭi quá xa trong suṓt một ᵭêm dài tại văn phòng. Những ʟần ⱪhác, bạn ᵭời ⱪhȏng chung thủy ⱪhiḗn trái tim người phụ nữ có một ⱪhoảng trṓng ʟớn, muṓn ᵭược ʟấp ᵭầy.

    3

    Một sṓ phụ nữ ngoại tình ᵭể ᵭỡ nhàm chán. Những người ⱪhác ʟừa dṓi vì cảm thấy bị bỏ rơi. Tuy nhiên, một sṓ người nói họ ngoại tình chỉ vì họ muṓn thḗ. Theo Walker, những ʟý do ⱪhȏng chung thủy rất phức tạp và ⱪhȏng cụ thể trong một cuộc hȏn nhȃn.

    Khi phụ nữ ʟừ a d ṓi, sẽ 3 thứ ngày càng “to ra”:

    Tính tình ngày càng ʟớn

    Đṓi với phụ nữ mà nói, ai chẳng muṓn có một ai ᵭó ᵭể dựa vào, trái tim của phụ nữ ⱪhȏng ʟớn như vậy, tất cả những gì họ cần ʟà ᵭược yêu thương, và ᵭàn ȏng chính ʟà ᵭiểm tựa, ʟà chỗ dựa ʟớn nhất của họ.

    Phụ nữ ⱪhi ᵭḗn tuổi trung niên, nḗu chưa từng ngoại tình thì nhất ᵭịnh phải nghĩ ᵭḗn người ᵭàn ȏng của mình, bởi người ᵭàn ȏng này ʟà chỗ dựa.

    Nhưng một ⱪhi ᵭàn bà ᵭã ⱪhȏng chung thủy, ⱪhi tranh cãi với ᵭàn ȏng, họ ⱪhȏng còn nghĩ ᵭḗn việc người ᵭàn ȏng ᵭó tṓt như thḗ nào, mà họ nhất ᵭịnh ⱪhȏng chịu nhỏ giọng.

    Khi gặp vấn ᵭḕ, suy nghĩ phổ biḗn nhất ʟà chṑng mình ⱪhȏng tṓt bằng người ⱪhác, chṑng ⱪhȏng yêu thương mình, sṓng với người như vậy thật ʟà bất hạnh.

    Vì vậy, ⱪhi gặp mȃu thuẫn, dù ᵭàn ȏng có chủ ᵭộng cúi ᵭầu nhường bước, họ cũng sẽ giở trò nhỏ nhen, ⱪhȏng muṓn tha thứ, thậm chí còn suy nghĩ xem có thể nhȃn cơ hội chia tay hay ⱪhȏng.

    Dành nhiḕu năng ʟượng ʟớn cho các buổi hẹn hò và sao nhãng gia ᵭình

    Nói chung, ᵭàn ȏng ⱪiḗm tiḕn nuȏi gia ᵭình, phụ nữ gánh vác gia ᵭình, mặc dù nhiḕu phụ nữ cũng có thể ᵭảm bảo tài chính ᵭộc ʟập và ⱪhȏng còn ʟà bà nội trợ, nhưng con gái dù sao cũng cẩn thận hơn ᵭàn ȏng.

    Vì vậy, phụ nữ phải dành nhiḕu thời gian cho gia ᵭình hơn nam giới, ᵭặc biệt ʟà phụ nữ ở ᵭộ tuổi trung niên, ᵭó ʟà giai ᵭoạn quan trọng ⱪhi con cái và người già cần có người ʟo ʟắng.

    Nhưng nḗu phụ nữ ⱪhȏng chung thủy, nghĩa ʟà trong thȃm tȃm họ nghĩ cần tận hưởng cuộc sṓng, ⱪhȏng còn nghĩ nhiḕu ᵭḗn cuộc sṓng gia ᵭình, sẽ dành nhiḕu thời gian hơn cho việc duy trì các mṓi quan hệ bên ngoài.

    Do ᵭó, ⱪhi một người phụ nữ ngày càng ít dành thời gian cho gia ᵭình, thay vì trở vḕ nhà sau ⱪhi tan sở mỗi ngày, họ sẽ có nhiḕu bữa tiệc và nhiḕu hoạt ᵭộng ⱪhác nhau, thì vḕ cơ bản chắc chắn rằng cȏ ấy ⱪhȏng chung thủy.

    1

    Khoảng cách ngày càng ʟớn

    Điểm mới nhất trong việc vun ᵭắp tình cảm vợ chṑng chính ʟà ᵭời sṓng vợ chṑng, ᵭời sṓng vợ chṑng có thể nói ʟà trung gian hòa giải của hȏn nhȃn, ⱪhi gặp tranh chấp, mȃu thuẫn, tình cảm thì ᵭời sṓng vợ chṑng có thể ᵭược giải quyḗt một cách hiệu quả trong vấn ᵭḕ “sinh hoạt vợ chṑng”.

    Nhưng nḗu một người phụ nữ hoàn toàn ⱪhȏng muṓn chung sṓng như vợ chṑng với bạn, hoặc bḕ ngoài thì ᵭṑng ý nhưng ⱪhȏng bao giờ chủ ᵭộng hoặc phṓi hợp, ᵭiḕu ᵭó có nghĩa ʟà trong ʟòng cȏ ấy ᵭã ⱪhȏng còn bạn nữa.

    Làm sao một người có thể ⱪhȏng có những nhu cầu bình thường ở tuổi trung niên? Chỉ có thể nói trong ʟòng cȏ ấy ᵭã có người ⱪhác, hoặc có những thứ ⱪhác có thể thỏa mãn cȏ ấy.

    Vì vậy, nḗu bạn và người ấy ⱪhȏng còn mặn nṑng như vậy, ᵭời sṓng vợ chṑng ⱪhȏng hòa thuận, rất có thể ᵭṓi phương ᵭã ⱪhȏng chung thủy, thỏa mãn bên ngoài, vḕ ᵭḗn nhà cũng ⱪhȏng mong gần gũi bạn.

    Nhiḕu phụ nữ nghĩ rằng chỉ cần họ giả vờ tṓt, ᵭàn ȏng sẽ ⱪhȏng phát hiện ra, nhưng sự ʟộ ʟiễu sớm muộn gì cũng sẽ ᵭḗn.

    Hȏn nhȃn ʟà một gia ᵭình nhỏ mà hai người cùng nhau quản ʟý và cùng nhau xȃy dựng, nḗu ⱪhȏng thể ʟà một nửa chȃn thành thì nên chia tay và tìm một ᵭṓi tác mới, nḗu ⱪhȏng cuṓi cùng chỉ ʟàm tổn thương người ⱪhác và chính mình mà thȏi.

  • Bà Nằm Dướι Đȃү Mẹ Ơι!” – Mọι Ngườι Đào TҺử Và KҺȏпg Tιп Vào Mắt MìпҺ…

    Bà Nằm Dướι Đȃү Mẹ Ơι!” – Mọι Ngườι Đào TҺử Và KҺȏпg Tιп Vào Mắt MìпҺ…

    “Bà Nằm Dướι Đȃү Mẹ Ơι!” – Mọι Ngườι Đào TҺử Và KҺȏпg Tιп Vào Mắt MìпҺ…

    Ngay từ lúc bước chân vào ngôi nhà ấy, Như đã cảm thấy một luồng khí lạnh lẽo kỳ lạ len lỏi vào da thịt.

    Không phải do thời tiết, cũng chẳng phải do tường ẩm mốc – mà là một cảm giác rờ n r ợn, như có ai đó đang quan sát họ.

    Như là một người mẹ đơn thân, vừa lyhôn, ôm con gái nhỏ Thúy về quê ngoại để tìm một khởi đầu mới.

    Cô thuê được căn nhà hai tầng cũ kỹ gần đình làng Yên Xá với giá rẻ đáng ngờ.

    Khi ký hợp đồng, ông Tâm – chủ nhà – chỉ nói ngắn gọn:

    “Chị ở thì cứ ở, nhưng tầng hầm thì khóa lại, đừng cho con bé xuống.

    Mấy đứa nhỏ trong làng bảo ở đó lạnh lẽo lắm…”

    Như chỉ cười trừ. Cô nghĩ, chắc nhà lâu không có người nên bọn trẻ bịa chuyện.

    Nhưng đêm đầu tiên trôi qua không yên bình như cô nghĩ.

    Khoảng ba giờ sáng, Như tỉnh giấc vì nghe tiếng lục đục dưới tầng trệt.

    Cô vội chạy xuống thì chếtsững.

    Con gái cô – Thúy – đang ngồi bệt giữa phòng khách, hai mắt nhắm nghiền, tay đặt lên một viên gạch xám giữa sàn nhà.

    Giọng con bé nhỏ nhẹ, tha thiết:

    “Bà ơi, đừng buồn… Con thương bà cụ dưới nền nhà…”

    Như ho;ảng hố;t lay con dậy. Thúy mở mắt, ngơ ngác nhìn mẹ rồi hỏi:

    “Mẹ ơi, ai tên Hiền vậy? Sao con nghe bà cụ khóc…”

    Dù cố trấn an con, trong lòng Như dấy lên nỗi bất an.

    Cô tự nhủ, chắc con bé bị ảnh hưởng do vừa chuyển nhà, cộng thêm trí tưởng tượng phong phú. Nhưng mọi chuyện chưa dừng ở đó.

    Thúy trở nên lặng lẽ. Con bé không còn líu lo như mọi ngày mà chỉ thích ngồi một mình, cặm cụi vẽ tranh.

    Những bức tranh ngày càng quái dị: hình một người phụ nữ bị trói tay, má;u chảy loang nền nhà, khuôn mặt đầy đau đớn.

    Một đêm, Thúy s ốt cao.

    Trong cơn mê man, giọng nói phát ra từ miệng con bé không còn là giọng trẻ con nữa, mà như của một người phụ nữ trưởng thành:

    “Họ đ ổ xi măng lên người tôi…

    Tôi không điên… Tôi có th;a i…”

    Như như ch;;ết lặng.

    Cô ôm con vào lòng, toàn thân run rẩy. Sáng hôm sau, cô bắt đầu dò hỏi về ngôi nhà.

    Bà Đào – chủ tiệm bánh gần chợ – hạ giọng khi nghe Như hỏi:

    “Chị cũng dọn vào cái nhà đó à?

    Trước kia có gia đình khác, đứa con gái cứ khóc đêm, thấy ‘hồnma’, rồi bỏ đi trong một tuần.”

    Ông Chí – một cụ già từng sống ở làng từ thời chiến tranh – sau nhiều lần năn nỉ mới kể:

    “Năm 1974, có cô Hiền, ngoan hiền lắm, làm thư ký cho hợp tác xã.

    Nghe đâu bị ba thằng đàn ông cưỡng hiếp – trong đó có ông Hòa, trưởng thôn ngày đó.

    Cô ấy tố cáo… rồi biến mất không dấu vết.”

    Như hỏi: “Không ai tìm cô ấy à?”

    Cụ Chí thở dài, mắt đục ngầu:

    “Họ bảo cô ấy đ;iên… Rồi lặng lẽ xếp hồ sơ.

    Người làng thì sợ… Làng này quen sống im lặng rồi.”

    Không thể chịu đựng thêm, một đêm, Như lấy hết can đảm.

    Cô lặng lẽ đập viên gạch xám nơi Thúy từng ngồi thì thầm.

    Dưới lớp gạch, lớp xi măng lởm chởm, lạnh buốt.

    Sau hai giờ đào sâu, tay cô chạm vào một mảnh vải mục.

    Đó là khăn trùm đầu, lấm m áu đã khô lại như bùn đất.

    Trong góc hố nhỏ, có một hộp thiếc rỉ sét. Cô run rẩy mở ra.

    Một bức thư tuyệt mệnh, chữ viết nguệch ngoạc nhưng rõ ràng:

    “Tôi tên Hiền. Tôi bị ông Hòa và hai người đàn ông cưỡng hiếp, có th;;ai. Họ bảo tôi điên.

    Tôi không đi ên. Tôi còn sống khi họ chôn tôi. Tôi không bỏ rơi con tôi…

    Nếu ai tìm thấy thư này, xin nói với con trai tôi rằng: Mẹ yêu con.”

    Như òa khóc. Mảnh đất dưới chân cô giờ như bốc mùi m áu tanh, lạnh đến xương tủy.

    Tin tức rò rỉ. Dân làng thay vì ủng hộ, lại gi;;ận dữ:

    – “Nó đào bới linh tinh!”

    – “Mang chuyện xấ u xí xới lại làm gì?”

    Ai đó phá xe máy của Như. Ai đó phun nước bọt vào con cô trước cổng trường.

    Thúy bị đám trẻ con hùa vào chửi là “manhập”.

    Ông Đức – chủ tịch xã, con trai của ông Hòa – lạnh giọng:

    “Chị muốn yên thân thì rút lui đi. Mấy chuyện cũ ấy, để ngủ yên dưới đất còn hơn.”

    Nhưng Như không dừng lại.

    Cô gửi thư và bằng chứng đến luật sư, báo chí, rồi tòa án.

    Kết quả điều tra chấn động: mẫu máu từ khăn khớp với ADN của một người tên Kiệt – sống trong trại trẻ mồ côi, chưa từng biết mẹ là ai.

    Dư luận bùng nổ. Các tờ báo gi ật tít: “Bímật bị ch ôn v ùi gần 50 năm – người phụ nữ bị giếtoan!”.

    Ông Đức bị cách chức. Cảnh sát mở lại hồ sơ.

    Danh tính ba kẻ thủ ác bị công khai, dù hai người trong số đó đã ch;ết.

    Một buổi lễ tưởng niệm được tổ chức tại đình làng – nơi Hiền từng cầu c;ứu.

    Trong làn khói hương bảng lảng, Thúy đứng giữa sân, tay nắm tay Kiệt – giờ đã là người đàn ông gần 50 tuổi – khẽ nói:

    “Bà Hiền đã đi rồi, đi trong ánh sáng…

    Bà không còn buồn nữa đâu.”

    Kiệt bật khóc. Lần đầu tiên trong đời, anh được nghe tiếng mẹ, qua miệng một đứa bé bảy tuổi.

    Ngôi nhà trở lại bình yên.

    Không còn mùi tanh, không còn tiếng khóc trong gương, không còn đèn chớp tắt lúc nửa đêm.

    Thúy vui vẻ trở lại.

    Những bức tranh của con bé giờ là cảnh đồng quê, nụ cười, ánh sáng.

    Kiệt, sau bao năm lưu lạc, tìm được nguồn cội của mình.

    Như – người mẹ đơn độc, từng bị cả làng dọa nạt – được vinh danh là người phụ nữ dũng cảm đã giúp giải o an cho một linh hồn và một quá khứ bị lãng quên.

    “Im lặng trước tội á c là tiếp tay cho cái á c.

    Sự thật có thể bị chôn vùi, nhưng một ngày nào đó, nó sẽ trỗi dậy, đòi lại công lý cho những linh h ồn đã từng bị bó p ngh ẹt giữa bóng tối.”

  • Con trâu nhà bỗng qu;ỳ sụp giữa đồng không ai hiểu vì sao. Sáng hôm sau, cả làng h;ét lên ho ảng lo;ạn khi thấy giữa chỗ nó qu;ỳ xuất hiện một hố sụt sâu h;un h út…Bên trong là thứ mà bao đời nay, không ai được ph ép nhìn thấy.

    Con trâu nhà bỗng qu;ỳ sụp giữa đồng không ai hiểu vì sao. Sáng hôm sau, cả làng h;ét lên ho ảng lo;ạn khi thấy giữa chỗ nó qu;ỳ xuất hiện một hố sụt sâu h;un h út…Bên trong là thứ mà bao đời nay, không ai được ph ép nhìn thấy.

    I. Con trâu không chịu đứng dậy
    Làng tôi tên Vân Lục, một vùng quê thuần nông với những cánh đồng bát ngát trải dài đến tận chân núi. Đời sống nơi đây yên bình đến mức người ta quen với mọi điều lặp lại: mùa nào gặt nấy, trâu bò đi ăn rồi về, tiếng sáo mục đồng mỗi chiều rải xuống những thửa ruộng còn thơm mùi rạ.

    Nhưng buổi chiều hôm đó… tất cả bắt đầu thay đổi.

     

     

    Người đầu tiên phát hiện chuyện lạ là thằng Kỉnh – một đứa bé mới 12 tuổi chuyên chăn trâu cho nhà chú Hậu. Nó hớt hải chạy về đầu làng, thở hồng hộc:

    — Bác ơi! Con trâu nhà chú Hậu… nó quỳ xuống giữa đồng! Con gọi thế nào cũng không chịu đứng dậy!

    Ai cũng nghĩ nó nói xạo.

    — Trâu mệt thì nằm, chứ ai nghe trâu quỳ bao giờ?

    Nhưng nó khăng khăng:

    — Nó không nằm. Nó quỳ như người ta quỳ l;ạy! Hai chân trước gập hẳn xuống đất, đầu cúi thấp như đang vái cái gì!

    Cả làng chưa bao giờ thấy chuyện này.

    Mấy ông trung niên đang ngồi uống nước chè nghe vậy bèn cầm nón đi theo. Tôi cũng tò mò bước ra đồng xem thử.

    Đến nơi, phải thừa nhận: thằng bé không hề nói dối.

     

     

    Giữa cánh đồng lớn của đội ba, con trâu mộng đen bóng của chú Hậu đang q uỳ hẳn xuống. Hai chân trước tựa đất, đầu cúi thấp. Nó không run, không kêu, không tỏ vẻ đau đớn. Nó chỉ… qu ỳ.

    — Lạ quá… — một bác thì thầm.

    Chú Hậu chạy đến, vỗ vào thân trâu:

    — Đứng lên, Bờm! Đứng lên coi!

    Nhưng con Bờm không nhúc nhích. Mắt nó nhìn chằm chằm xuống một điểm ngay trước mặt, như đang nhìn xuyên qua mặt đất.

    Mãi một lúc sau, nó khẽ dậm chân sau, lùi lại vài bước… nhưng vẫn quỳ.

    Mặt trời dần lặn. Mọi người đứng xem mà rờn rợn, không giải thích nổi. Có người mê tín thì thầm:

    — Nó thấy thứ gì đó… mình không thấy thôi.

    Đêm đó, chú Hậu đành để trâu nằm lại đồng, tr ói lỏng vào cọc.

    Nhưng chẳng ai ngờ…

    Sáng hôm sau cả làng sẽ phát hiện ra một thứ khiến cuộc sống đ ảo lộ n.

    II. Hố sụt trong đêm
    Trời chưa sáng hẳn, người ta đã nghe tiếng la h ét ngoài bờ ruộng.

     

     

    — H Ố SỤT! H Ố SỤT!

    Khi tôi chạy tới nơi, trước mắt là một cảnh tượng hãihùng: ngay đúng vị trí con trâu qu ỳ tối qua, đất bị tụt xuống thành một hố sâu đến 5–6 mét, rộng chừng vài chục mét vuông.

    Con Bờm đứng mép hố, lông dựng đứng, thở phì phò. Nó không bị rơi xuống – như thể nó biết chính xác chỗ nào sắp sụt.

    Dưới đáy hố là những tảng đất lớn vừa vỡ ra. Nhưng thứ khiến mọi người im bặt… là vật nằm giữa đáy hố.

    Một khối tròn đen bóng, cao gần bằng người lớn, giống như một quả cầu đá. Bề mặt nó đầy các vết khắc lạ trông như ký tự cổ.

    Một ông lão ru n r un th ốt lên:

    — Trời đất ơi… đây là… vật cổ.

    Không ai dám xuống h ố. Khối cầu phát sáng nhẹ, như có lớp sương lạnh quấn quanh. Lũ trẻ chỉ dám đứng từ xa nhìn.

    Trước sự việc lớn, xã lập tức báo lên huyện. Đến trưa, đoàn khảo sát địa chất và văn hóa về tới.

    Trưởng đoàn khảo cổ là một phụ nữ tên An, dáng người nhỏ nhắn nhưng ánh mắt sắc lẹm, cùng hai kỹ thuật viên và máy móc đo đạc. Vừa nhìn vật thể, chị đã cau mày:

    — Đây không phải đá tự nhiên.

    Một kỹ thuật viên soi đèn:

    — Có ký hiệu. Nhưng không giống văn tự Đông Sơn, cũng không phải văn hóa Sa Huỳnh.

    Chị An khoanh tay:

    — Đừng ai chạm vào nó. Chúng tôi phải đo đạc trước.

     

     

    Nhưng người dân tò mò thì đông hơn cả kiến, đứng chật bờ ruộng. Mấy bà cụ thì xì xào:

    — Nhìn như đá trời rơi xuống ấy nhỉ?

    — Hay là đồ của người xưa chôn?

    — Hay là linh vật gì đó? Con trâu nó q uỳ chắc có đi ềm…

    Dân làng nhìn xuống hố mà vừa sợ vừa phấn khích. Người thì mong là cổ vật quý, người lại lo lắng chuyện tâ m li nh.

    Đến chiều, đoàn khảo cổ đưa ra một kết luận làm cả làng rúng động:

    — Vật thể này… không nằm trong hồ sơ của bất kỳ nền văn hóa Việt Nam nào.
    — Nó quá tròn, quá chính xác để là vật tự nhiên. Ai đó đã tạo ra nó… rất lâu trước đây.

    Cả làng xôn xao. Chú Hậu chỉ đứng một góc, nhìn con trâu Bờm như đang hỏi nó:

    — Mày… nhìn thấy cái gì mà q uỳ vậy hả?

    Nhưng điều kỳ lạ nhất… vẫn chưa xuất hiện.

     

     

    III. Đêm thứ hai: Tiếng động từ lòng đất
    Tối hôm ấy, dân làng ngồi túm tụm trước cửa nhà, bàn tán không dứt về vật thể lạ. Chỉ có một điều họ không để ý:

    Con trâu Bờm… cứ đứng ở đầu làng, nhìn chằm chằm về phía cánh đồng, không chịu vào chuồng.

    Khoảng gần nửa đêm, làng chìm vào im lặng. Trăng mờ sau lớp mây. Không ai biết vì sao… chỉ những con vật phản ứng đầu tiên.

    Lũ chó tru lên từng hồi.

    Gà trong chuồng đồng loạt xòe cánh.

    Cả trâu bò đều đập chuồng bồn chồn.

    Tôi đang ngủ thì nghe tiếng đất rung nhẹ, như ai đó đập mạnh một cú dưới mặt đất. Rồi một tiếng nữa. Rồi tiếng thứ ba…

    Tôi bật dậy chạy ra hiên, nhìn về phía cánh đồng.

    Ánh sáng xanh mờ nhạt từ dưới hố sụt đang dần lan rộng, soi mờ cả góc trời.

    Tim tôi thắt lại.

    Tôi hớt hải chạy đi kêu người.

    Cả làng bật đèn, kéo nhau ra đồng. Đến nơi, ai nấy ch ết ặng.

    Khối cầu đen dưới hố… đang tỏa sáng mạnh hơn, các vết khắc như chuyển động chậm rãi, giống như đang “thở”.

    Ông Tư già nhất làng ru n lẩybẩy:

    — Tôi… tôi từng thấy thứ này rồi… nhiều năm trước…

    Mọi người quay sang.

    Ông kể bằng giọng đứt quãng:

    — Hồi tôi còn nhỏ, ông nội tôi nói… cánh đồng này xưa vốn là đất cấm. Có thứ gì đó được trấn ở đây. Bởi vậy bao đời không ai dám đào sâu.
    — Đêm nào trâu bò qu ỳ là biết có chuyện lớn…

    Chị An – chuyên gia khảo cổ – lập tức yêu cầu mọi người lui lại. Chị muốn xuống đo cường độ ánh sáng thì… khối cầu rung mạnh.

    Một vệt nứt chạy dọc thân nó.

    Dân làng hét lên:

    — Nó vỡ! Nó vỡ rồi!

    Nhưng khối cầu không nổ tung. Nó chỉ tách đôi, hé giữa lòng một vật nhỏ hơn, hình trụ, giống như một ống chứa bằng kim loại cổ xưa, đen và lạnh.

    Đoàn khảo cổ kinh ngạc:

    — Đây không phải đá. Đây là hợp kim. Nhưng hợp kim kiểu gì mà tồn tại cả ngàn năm?

    Dưới ánh sáng xanh, kí hiệu khắc trên ống chứa sáng rực, lạ lùng như… ánh mắt của một sinh vật.

    Không ai dám chạm vào.

    Con trâu Bờm g ầm lên vang vọng.

    Và đúng lúc ấy, cánh đồng bắt đầu lún xuống lần nữa…

    IV. Bí mật trong ống chứa
    Sự lún đất không lớn, nhưng đủ để ai cũng phải lùi lại. Hố sụt mở rộng thêm gần mét. Vật thể hình trụ nằm chênh vênh trên một mỏm đất nhỏ, dưới nó là khoảng tối sâu khiến người ta gai sống lưng.

     

     

    Chị An trấn tĩnh, hít sâu:

    — Chúng ta… phải đưa vật này lên. Nó có thể là cổ vật quan trọng nhất khu vực này.

    Chú Hậu táimặt:

    — Mấy cô đừng động vào… Tôi thấy s ợ lắm.

    Chị An mở dụng cụ, đeo găng chuyên dụng, leo xuống theo dây.

    Khi vừa chạm tay vào vật trụ, chị rùng mình:

    — Lạnh quá… lạnh như kim loại vừa lấy ra khỏi tủ đông…

    Chị cố gắng nâng vật trụ. Nó nặng hơn vẻ ngoài. Lúc chị đưa nó lên, một tiếng “cạch” vang lên như công tắc khởi động.

    Vật trụ phát sáng mạnh.

    Dân làng ho;ảng lo;ạn lùi lại.

    Ánh sáng từ vật trụ chiếu thẳng lên trời, tạo thành một luồng sáng xanh như cột năng lượng.

    Gió nổi lên. Đất rung chuyển.

    Trâu Bờm gầm dài, quay đầu bỏ chạy.

    Chị An cố hét:

    — Mọi người tránh xa! Hình như nó đang… mở ra gì đó!

    Một vòng khắc trên thân ống bắt đầu xoay.

    Tôi cảm thấy s ợ đến mức chân muốn khu ỵu xuống.

    Rồi…

    Ngay khoảnh khắc ống trụ tách hẳn ba lớp, lộ ra lõi bên trong – thì…

    Một tiếng nổ lớn vang lên từ dưới đáy hố.

    Đất s ụt mạnh. Chị An suýt rơi xuống nếu không được kéo ngược lên kịp.

    Tất cả đứng ch ết trân nhìn xuống.

     

     

    Dưới đáy hố vừa lộ ra một cấu trúc hình vòm, giống mái của một công trình lớn bị chôn suốt nhiều thế kỷ.

    Một kỹ thuật viên lắp bắp:

    — Trời ơi… dưới đất có cả một kiến trúc…

    Chị An nhìn kỹ vật trụ trong tay rồi thở nặng:

    — Đây… không phải đồ cổ bình thường. Đây là chìa khóa. Chìa khóa để mở cái ở dưới kia.

    Cả làng lặng thinh.

    Không ai nói được lời nào.

    V. Nền nhà cổ dưới đồng
    Sáng hôm sau, chính quyền phong tỏa toàn bộ cánh đồng. Đoàn khảo cổ xin thêm thiết bị. Tin đồn lan khắp huyện.

    Người ta dựng giàn giáo, đào từng lớp đất. Đến trưa, một cảnh tượng khiến ai cũng nổi gai ốc:

    Một nền nhà cổ bằng đá xuất hiện, với những bậc thang dẫn xuống sâu hơn – tất cả đều bị bùn đất phủ hàng nghìn năm.

    Không có dấu vết dân cư. Không có vật dụng. Chỉ có những bức phù điêu kỳ dị khắc hình trâu, mặt trời, và những biểu tượng vòng tròn xoáy như dòng nước.

     

     

    Chị An cố giải mã:

    — Rất có thể đây là khu tế lễ của một nhóm người cổ chưa được biết đến. Và vật trụ kia… có thể là vật họ dùng trong nghi lễ.

    Tôi hỏi:

    — Thế con trâu quỳ… là sao?

    Chị An nhìn xuống hố, ánh mắt xa xăm:

    — Động vật đôi khi cảm nhận được chấn động mà con người không thể. Có lẽ hoạt động dưới lòng đất bắt đầu trước khi hố sụt. Con trâu cảm nhận được… nên qu ỳ xuống.

    Chú Hậu đứng cạnh tôi, khẽ thì thầm:

    — Nhưng nó quỳ như lạy. Nó qu ỳ đúng vị trí. Như biết trước…

    Không ai giải thích được.

    VI. Đêm cu ối: Cánh cửa mở
    Đến chiều, đội khảo cổ quyết định dùng vật trụ để thử mở khối kiến trúc dưới hố – dù rủi ro cao. Họ đặt ống trụ vào khe khớp ngay giữa nền đá, nơi có hình xoáy tròn giống hệt hoa văn trên ống.

     

     

    Chị An ra hiệu:

    — Chuẩn bị.

    Ống trụ khớp với khe.

    Một tiếng click vang lên.

    Rồi RẦM.

    Đất dưới chân rung lên lần nữa. Những khe sáng từ nền đá chạy dọc ra các phiến đá xung quanh.

    Chị An thở gấp:

    — Cửa… đang mở.

    Cả lòng đất phát sáng.

    Đường đá phía dưới bị đẩy xuống, lộ ra một căn phòng đá ngầm rộng lớn. Đoàn khảo cổ chĩa đèn pin xuống.

    Tôi đứng cạnh, tim đập thình thịch.

     

     

    Trong phòng có một bệ thờ đá trống không. Trên tường là hàng loạt phù điêu mô tả… những con trâu qu ỳ.

    Nhưng điều khiến mọi người ngh ẹt thở… là dòng ký hiệu lớn nhất ngay bức tường chính.

    Chị An phiên dịch từng từ, giọng ru n rẩ y:

    — “Vật trụ… dùng để… pho ng ấn… thứ ngủ dưới chân núi”…
    — “Không được mở… nếu chưa đến thời”…
    — “Đất sẽ sụt, biển sẽ dâng… nếu phong ấ  n tan…”

    Cả đoàn im lặng lạnh sống lưng.

    Tôi hoảnghốt:

    — Nghĩa là ta vừa… mở pho ng  ấn?

    Chị An khẽ gật.

    — Nhưng thứ ngủ dưới kia… là gì?

    Chưa ai kịp trả lời.

    Một tiếng rung chấn lớn từ dưới sâu vang lên.

    Đất nứt.

    Gió nổi lên ầm ầm.

    Lũ vật nuôi trong làng đồng loạt rống th ảm thi ết.

    Và đúng khoảnh khắc nền nhà đá sụp xuống, nước từ mạch ngầm phun lên trắng xóa, tôi thấy rõ:

     

     

    — Đó không phải công trình bình thường.
    — Đó là nơi giam giữ một thứ gì đó rất lớn.

    Thứ gì đó… đang thức dậy.

    VII. Trâu Bờm — kẻ giữ bí mật cu ối cùng
    Ngay lúc hỗn loạn ấy, con trâu Bờm lao đến như đi ên, húc đổ rào chắn, lao thẳng về phía hố sụt.

    Chú Hậu h ét:

    — BỜM! MÀY LÀM GÌ ĐẤY?!

    Nhưng con trâu nhảy xuống dốc đất, đứng chắn trước miệng căn phòng đá.

    Nó lại quỳ xuống. Lần này mạnh mẽ hơn, như đang dồn toàn lực ngăn thứ gì đó trồi lên.

     

     

    Nền đất rạn thêm.

    Từ dưới sâu, âm thanh trầm đục vang lên như tiếng gọi cổ xưa.

    Ống trụ xoay ngược trở lại.

     

     

    Khí lạnh thổi ngược lên.

    Căn phòng đá tiếp tục sập thêm lớp nữa.

    Chị An hét to:

    — ĐÓ LÀ PHONG ẤN NGƯỢC! PHẢI KHÉP LẠI CỬA!

    Nhưng làm sao đóng? Ống trụ tự xoay. Đất rung mạnh khiến ai cũng ngã dúi dụi.

    Chỉ có con Bờm… vẫn giữ nguyên tư thế quỳ.

    Mỗi lần âm thanh dưới đất dội lên, nó lại dồn sức ghì xuống mặt đất. Cơ thể lớn rung bần bật nhưng không hề lùi.

    Chú Hậu b  ật khóc:

    — Trời ơi… nó biết hết… Nó biết cái gì ở dưới kia!

    Dần dần, nền đá khép lại.

    Ống trụ tắt sáng.

    Khe đá đóng kín.

    Căn phòng đá bị chặn hoàn toàn.

    Rung chấn ngừng hẳn.

    Gió dừng.

    Tiếng gầ m dưới sâu bi ến m ất.

    Con trâu Bờm đổ gục xuống, thở dốc.

    Chú Hậu nhào tới ôm đầu nó.

    Mọi người lặng im. Dù không ai nói ra, ai cũng hiểu:
    Chính con trâu đã giữ ph ong ấ n lại.

    VIII. Sự thật sau cùng
    Khi mọi thứ kết thúc, đoàn khảo cổ đóng ống trụ vào kho chuyên dụng, niêm phong và báo lên cấp cao. Hố sụt được lấp lại theo yêu cầu của chính quyền.

    Chị An trước khi rời làng đã nói với tôi:

    Tráicây & rau

     

    — Những phù điêu trên tường không phải hình ngẫu nhiên.
    — Người xưa đã huấn luyện trâu như loài giữ phongấn.
    — Khi phong ấn yếu, chúng sẽ cảm nhận và… qu ỳ.

    Tôi rùng mình nghĩ lại tất cả.

    **Con trâu qu ỳ không phải bất thường.

    Nó là cảnh báo.**

    Cảnh báo chúng tôi đừng mở phongấn.

    Nhưng chúng tôi đã mở…

    May mà nó kịp thời đóng lại.

    Chú Hậu ôm con Bờm suốt nhiều ngày. Con trâu yếu đi thấy rõ, lông bạc dần. Nhưng trong mắt nó vẫn có ánh nhìn thông tuệ kỳ lạ, như hiểu hết chuyện xảy ra.

    Một tuần sau, con trâu Bờm ch;ết.
    Ch;ết trong tư thế… đầu đặt xuống đất, chân trước gập chỉ như một cái qu;ỳ cuối cùng.

    Chú Hậu khóc như mất người thân.

     

     

    Dân làng chôn nó ngay cạnh cánh đồng – chỗ nó đã cảnh báo chúng tôi.

    Khi đào hố chôn, mọi người phát hiện dưới lớp đất mềm có một mảng đá kỳ lạ có hình xoáy tròn… giống hệt đá pho ng ấ n.

    Tôi đứng lặng rất lâu.

    Có những thứ trong lòng đất chôn vùi hàng nghìn năm… nhưng không hề bi ến m ất.

    Và có lẽ… loài trâu đã hiểu rõ điều đó từ rất lâu. Chỉ là chúng ta không biết lắng nghe.

  • Bà Nằm Dướι Đȃү Mẹ Ơι!” – Mọι Ngườι Đào TҺử Và KҺȏпg Tιп Vào Mắt MìпҺ…

    Bà Nằm Dướι Đȃү Mẹ Ơι!” – Mọι Ngườι Đào TҺử Và KҺȏпg Tιп Vào Mắt MìпҺ…

    “Bà Nằm Dướι Đȃү Mẹ Ơι!” – Mọι Ngườι Đào TҺử Và KҺȏпg Tιп Vào Mắt MìпҺ…

    Ngay từ lúc bước chân vào ngôi nhà ấy, Như đã cảm thấy một luồng khí lạnh lẽo kỳ lạ len lỏi vào da thịt.

    Không phải do thời tiết, cũng chẳng phải do tường ẩm mốc – mà là một cảm giác rờ n r ợn, như có ai đó đang quan sát họ.

    Như là một người mẹ đơn thân, vừa lyhôn, ôm con gái nhỏ Thúy về quê ngoại để tìm một khởi đầu mới.

    Cô thuê được căn nhà hai tầng cũ kỹ gần đình làng Yên Xá với giá rẻ đáng ngờ.

    Khi ký hợp đồng, ông Tâm – chủ nhà – chỉ nói ngắn gọn:

    “Chị ở thì cứ ở, nhưng tầng hầm thì khóa lại, đừng cho con bé xuống.

    Mấy đứa nhỏ trong làng bảo ở đó lạnh lẽo lắm…”

    Như chỉ cười trừ. Cô nghĩ, chắc nhà lâu không có người nên bọn trẻ bịa chuyện.

    Nhưng đêm đầu tiên trôi qua không yên bình như cô nghĩ.

    Khoảng ba giờ sáng, Như tỉnh giấc vì nghe tiếng lục đục dưới tầng trệt.

    Cô vội chạy xuống thì chếtsững.

    Con gái cô – Thúy – đang ngồi bệt giữa phòng khách, hai mắt nhắm nghiền, tay đặt lên một viên gạch xám giữa sàn nhà.

    Giọng con bé nhỏ nhẹ, tha thiết:

    “Bà ơi, đừng buồn… Con thương bà cụ dưới nền nhà…”

    Như ho;ảng hố;t lay con dậy. Thúy mở mắt, ngơ ngác nhìn mẹ rồi hỏi:

    “Mẹ ơi, ai tên Hiền vậy? Sao con nghe bà cụ khóc…”

    Dù cố trấn an con, trong lòng Như dấy lên nỗi bất an.

    Cô tự nhủ, chắc con bé bị ảnh hưởng do vừa chuyển nhà, cộng thêm trí tưởng tượng phong phú. Nhưng mọi chuyện chưa dừng ở đó.

    Thúy trở nên lặng lẽ. Con bé không còn líu lo như mọi ngày mà chỉ thích ngồi một mình, cặm cụi vẽ tranh.

    Những bức tranh ngày càng quái dị: hình một người phụ nữ bị trói tay, má;u chảy loang nền nhà, khuôn mặt đầy đau đớn.

    Một đêm, Thúy s ốt cao.

    Trong cơn mê man, giọng nói phát ra từ miệng con bé không còn là giọng trẻ con nữa, mà như của một người phụ nữ trưởng thành:

    “Họ đ ổ xi măng lên người tôi…

    Tôi không điên… Tôi có th;a i…”

    Như như ch;;ết lặng.

    Cô ôm con vào lòng, toàn thân run rẩy. Sáng hôm sau, cô bắt đầu dò hỏi về ngôi nhà.

    Bà Đào – chủ tiệm bánh gần chợ – hạ giọng khi nghe Như hỏi:

    “Chị cũng dọn vào cái nhà đó à?

    Trước kia có gia đình khác, đứa con gái cứ khóc đêm, thấy ‘hồnma’, rồi bỏ đi trong một tuần.”

    Ông Chí – một cụ già từng sống ở làng từ thời chiến tranh – sau nhiều lần năn nỉ mới kể:

    “Năm 1974, có cô Hiền, ngoan hiền lắm, làm thư ký cho hợp tác xã.

    Nghe đâu bị ba thằng đàn ông cưỡng hiếp – trong đó có ông Hòa, trưởng thôn ngày đó.

    Cô ấy tố cáo… rồi biến mất không dấu vết.”

    Như hỏi: “Không ai tìm cô ấy à?”

    Cụ Chí thở dài, mắt đục ngầu:

    “Họ bảo cô ấy đ;iên… Rồi lặng lẽ xếp hồ sơ.

    Người làng thì sợ… Làng này quen sống im lặng rồi.”

    Không thể chịu đựng thêm, một đêm, Như lấy hết can đảm.

    Cô lặng lẽ đập viên gạch xám nơi Thúy từng ngồi thì thầm.

    Dưới lớp gạch, lớp xi măng lởm chởm, lạnh buốt.

    Sau hai giờ đào sâu, tay cô chạm vào một mảnh vải mục.

    Đó là khăn trùm đầu, lấm m áu đã khô lại như bùn đất.

    Trong góc hố nhỏ, có một hộp thiếc rỉ sét. Cô run rẩy mở ra.

    Một bức thư tuyệt mệnh, chữ viết nguệch ngoạc nhưng rõ ràng:

    “Tôi tên Hiền. Tôi bị ông Hòa và hai người đàn ông cưỡng hiếp, có th;;ai. Họ bảo tôi điên.

    Tôi không đi ên. Tôi còn sống khi họ chôn tôi. Tôi không bỏ rơi con tôi…

    Nếu ai tìm thấy thư này, xin nói với con trai tôi rằng: Mẹ yêu con.”

    Như òa khóc. Mảnh đất dưới chân cô giờ như bốc mùi m áu tanh, lạnh đến xương tủy.

    Tin tức rò rỉ. Dân làng thay vì ủng hộ, lại gi;;ận dữ:

    – “Nó đào bới linh tinh!”

    – “Mang chuyện xấ u xí xới lại làm gì?”

    Ai đó phá xe máy của Như. Ai đó phun nước bọt vào con cô trước cổng trường.

    Thúy bị đám trẻ con hùa vào chửi là “manhập”.

    Ông Đức – chủ tịch xã, con trai của ông Hòa – lạnh giọng:

    “Chị muốn yên thân thì rút lui đi. Mấy chuyện cũ ấy, để ngủ yên dưới đất còn hơn.”

    Nhưng Như không dừng lại.

    Cô gửi thư và bằng chứng đến luật sư, báo chí, rồi tòa án.

    Kết quả điều tra chấn động: mẫu máu từ khăn khớp với ADN của một người tên Kiệt – sống trong trại trẻ mồ côi, chưa từng biết mẹ là ai.

    Dư luận bùng nổ. Các tờ báo gi ật tít: “Bímật bị ch ôn v ùi gần 50 năm – người phụ nữ bị giếtoan!”.

    Ông Đức bị cách chức. Cảnh sát mở lại hồ sơ.

    Danh tính ba kẻ thủ ác bị công khai, dù hai người trong số đó đã ch;ết.

    Một buổi lễ tưởng niệm được tổ chức tại đình làng – nơi Hiền từng cầu c;ứu.

    Trong làn khói hương bảng lảng, Thúy đứng giữa sân, tay nắm tay Kiệt – giờ đã là người đàn ông gần 50 tuổi – khẽ nói:

    “Bà Hiền đã đi rồi, đi trong ánh sáng…

    Bà không còn buồn nữa đâu.”

    Kiệt bật khóc. Lần đầu tiên trong đời, anh được nghe tiếng mẹ, qua miệng một đứa bé bảy tuổi.

    Ngôi nhà trở lại bình yên.

    Không còn mùi tanh, không còn tiếng khóc trong gương, không còn đèn chớp tắt lúc nửa đêm.

    Thúy vui vẻ trở lại.

    Những bức tranh của con bé giờ là cảnh đồng quê, nụ cười, ánh sáng.

    Kiệt, sau bao năm lưu lạc, tìm được nguồn cội của mình.

    Như – người mẹ đơn độc, từng bị cả làng dọa nạt – được vinh danh là người phụ nữ dũng cảm đã giúp giải o an cho một linh hồn và một quá khứ bị lãng quên.

    “Im lặng trước tội á c là tiếp tay cho cái á c.

    Sự thật có thể bị chôn vùi, nhưng một ngày nào đó, nó sẽ trỗi dậy, đòi lại công lý cho những linh h ồn đã từng bị bó p ngh ẹt giữa bóng tối.”

  • Bà Nằm Dướι Đȃү Mẹ Ơι!” – Mọι Ngườι Đào TҺử Và KҺȏпg Tιп Vào Mắt MìпҺ…

    Bà Nằm Dướι Đȃү Mẹ Ơι!” – Mọι Ngườι Đào TҺử Và KҺȏпg Tιп Vào Mắt MìпҺ…

    “Bà Nằm Dướι Đȃү Mẹ Ơι!” – Mọι Ngườι Đào TҺử Và KҺȏпg Tιп Vào Mắt MìпҺ…

    Ngay từ lúc bước chân vào ngôi nhà ấy, Như đã cảm thấy một luồng khí lạnh lẽo kỳ lạ len lỏi vào da thịt.

    Không phải do thời tiết, cũng chẳng phải do tường ẩm mốc – mà là một cảm giác rờ n r ợn, như có ai đó đang quan sát họ.

    Như là một người mẹ đơn thân, vừa lyhôn, ôm con gái nhỏ Thúy về quê ngoại để tìm một khởi đầu mới.

    Cô thuê được căn nhà hai tầng cũ kỹ gần đình làng Yên Xá với giá rẻ đáng ngờ.

    Khi ký hợp đồng, ông Tâm – chủ nhà – chỉ nói ngắn gọn:

    “Chị ở thì cứ ở, nhưng tầng hầm thì khóa lại, đừng cho con bé xuống.

    Mấy đứa nhỏ trong làng bảo ở đó lạnh lẽo lắm…”

    Như chỉ cười trừ. Cô nghĩ, chắc nhà lâu không có người nên bọn trẻ bịa chuyện.

    Nhưng đêm đầu tiên trôi qua không yên bình như cô nghĩ.

    Khoảng ba giờ sáng, Như tỉnh giấc vì nghe tiếng lục đục dưới tầng trệt.

    Cô vội chạy xuống thì chếtsững.

    Con gái cô – Thúy – đang ngồi bệt giữa phòng khách, hai mắt nhắm nghiền, tay đặt lên một viên gạch xám giữa sàn nhà.

    Giọng con bé nhỏ nhẹ, tha thiết:

    “Bà ơi, đừng buồn… Con thương bà cụ dưới nền nhà…”

    Như ho;ảng hố;t lay con dậy. Thúy mở mắt, ngơ ngác nhìn mẹ rồi hỏi:

    “Mẹ ơi, ai tên Hiền vậy? Sao con nghe bà cụ khóc…”

    Dù cố trấn an con, trong lòng Như dấy lên nỗi bất an.

    Cô tự nhủ, chắc con bé bị ảnh hưởng do vừa chuyển nhà, cộng thêm trí tưởng tượng phong phú. Nhưng mọi chuyện chưa dừng ở đó.

    Thúy trở nên lặng lẽ. Con bé không còn líu lo như mọi ngày mà chỉ thích ngồi một mình, cặm cụi vẽ tranh.

    Những bức tranh ngày càng quái dị: hình một người phụ nữ bị trói tay, má;u chảy loang nền nhà, khuôn mặt đầy đau đớn.

    Một đêm, Thúy s ốt cao.

    Trong cơn mê man, giọng nói phát ra từ miệng con bé không còn là giọng trẻ con nữa, mà như của một người phụ nữ trưởng thành:

    “Họ đ ổ xi măng lên người tôi…

    Tôi không điên… Tôi có th;a i…”

    Như như ch;;ết lặng.

    Cô ôm con vào lòng, toàn thân run rẩy. Sáng hôm sau, cô bắt đầu dò hỏi về ngôi nhà.

    Bà Đào – chủ tiệm bánh gần chợ – hạ giọng khi nghe Như hỏi:

    “Chị cũng dọn vào cái nhà đó à?

    Trước kia có gia đình khác, đứa con gái cứ khóc đêm, thấy ‘hồnma’, rồi bỏ đi trong một tuần.”

    Ông Chí – một cụ già từng sống ở làng từ thời chiến tranh – sau nhiều lần năn nỉ mới kể:

    “Năm 1974, có cô Hiền, ngoan hiền lắm, làm thư ký cho hợp tác xã.

    Nghe đâu bị ba thằng đàn ông cưỡng hiếp – trong đó có ông Hòa, trưởng thôn ngày đó.

    Cô ấy tố cáo… rồi biến mất không dấu vết.”

    Như hỏi: “Không ai tìm cô ấy à?”

    Cụ Chí thở dài, mắt đục ngầu:

    “Họ bảo cô ấy đ;iên… Rồi lặng lẽ xếp hồ sơ.

    Người làng thì sợ… Làng này quen sống im lặng rồi.”

    Không thể chịu đựng thêm, một đêm, Như lấy hết can đảm.

    Cô lặng lẽ đập viên gạch xám nơi Thúy từng ngồi thì thầm.

    Dưới lớp gạch, lớp xi măng lởm chởm, lạnh buốt.

    Sau hai giờ đào sâu, tay cô chạm vào một mảnh vải mục.

    Đó là khăn trùm đầu, lấm m áu đã khô lại như bùn đất.

    Trong góc hố nhỏ, có một hộp thiếc rỉ sét. Cô run rẩy mở ra.

    Một bức thư tuyệt mệnh, chữ viết nguệch ngoạc nhưng rõ ràng:

    “Tôi tên Hiền. Tôi bị ông Hòa và hai người đàn ông cưỡng hiếp, có th;;ai. Họ bảo tôi điên.

    Tôi không đi ên. Tôi còn sống khi họ chôn tôi. Tôi không bỏ rơi con tôi…

    Nếu ai tìm thấy thư này, xin nói với con trai tôi rằng: Mẹ yêu con.”

    Như òa khóc. Mảnh đất dưới chân cô giờ như bốc mùi m áu tanh, lạnh đến xương tủy.

    Tin tức rò rỉ. Dân làng thay vì ủng hộ, lại gi;;ận dữ:

    – “Nó đào bới linh tinh!”

    – “Mang chuyện xấ u xí xới lại làm gì?”

    Ai đó phá xe máy của Như. Ai đó phun nước bọt vào con cô trước cổng trường.

    Thúy bị đám trẻ con hùa vào chửi là “manhập”.

    Ông Đức – chủ tịch xã, con trai của ông Hòa – lạnh giọng:

    “Chị muốn yên thân thì rút lui đi. Mấy chuyện cũ ấy, để ngủ yên dưới đất còn hơn.”

    Nhưng Như không dừng lại.

    Cô gửi thư và bằng chứng đến luật sư, báo chí, rồi tòa án.

    Kết quả điều tra chấn động: mẫu máu từ khăn khớp với ADN của một người tên Kiệt – sống trong trại trẻ mồ côi, chưa từng biết mẹ là ai.

    Dư luận bùng nổ. Các tờ báo gi ật tít: “Bímật bị ch ôn v ùi gần 50 năm – người phụ nữ bị giếtoan!”.

    Ông Đức bị cách chức. Cảnh sát mở lại hồ sơ.

    Danh tính ba kẻ thủ ác bị công khai, dù hai người trong số đó đã ch;ết.

    Một buổi lễ tưởng niệm được tổ chức tại đình làng – nơi Hiền từng cầu c;ứu.

    Trong làn khói hương bảng lảng, Thúy đứng giữa sân, tay nắm tay Kiệt – giờ đã là người đàn ông gần 50 tuổi – khẽ nói:

    “Bà Hiền đã đi rồi, đi trong ánh sáng…

    Bà không còn buồn nữa đâu.”

    Kiệt bật khóc. Lần đầu tiên trong đời, anh được nghe tiếng mẹ, qua miệng một đứa bé bảy tuổi.

    Ngôi nhà trở lại bình yên.

    Không còn mùi tanh, không còn tiếng khóc trong gương, không còn đèn chớp tắt lúc nửa đêm.

    Thúy vui vẻ trở lại.

    Những bức tranh của con bé giờ là cảnh đồng quê, nụ cười, ánh sáng.

    Kiệt, sau bao năm lưu lạc, tìm được nguồn cội của mình.

    Như – người mẹ đơn độc, từng bị cả làng dọa nạt – được vinh danh là người phụ nữ dũng cảm đã giúp giải o an cho một linh hồn và một quá khứ bị lãng quên.

    “Im lặng trước tội á c là tiếp tay cho cái á c.

    Sự thật có thể bị chôn vùi, nhưng một ngày nào đó, nó sẽ trỗi dậy, đòi lại công lý cho những linh h ồn đã từng bị bó p ngh ẹt giữa bóng tối.”

  • Bà Nằm Dướι Đȃү Mẹ Ơι!” – Mọι Ngườι Đào TҺử Và KҺȏпg Tιп Vào Mắt MìпҺ…

    Bà Nằm Dướι Đȃү Mẹ Ơι!” – Mọι Ngườι Đào TҺử Và KҺȏпg Tιп Vào Mắt MìпҺ…

    “Bà Nằm Dướι Đȃү Mẹ Ơι!” – Mọι Ngườι Đào TҺử Và KҺȏпg Tιп Vào Mắt MìпҺ…

    Ngay từ lúc bước chân vào ngôi nhà ấy, Như đã cảm thấy một luồng khí lạnh lẽo kỳ lạ len lỏi vào da thịt.

    Không phải do thời tiết, cũng chẳng phải do tường ẩm mốc – mà là một cảm giác rờ n r ợn, như có ai đó đang quan sát họ.

    Như là một người mẹ đơn thân, vừa lyhôn, ôm con gái nhỏ Thúy về quê ngoại để tìm một khởi đầu mới.

    Cô thuê được căn nhà hai tầng cũ kỹ gần đình làng Yên Xá với giá rẻ đáng ngờ.

    Khi ký hợp đồng, ông Tâm – chủ nhà – chỉ nói ngắn gọn:

    “Chị ở thì cứ ở, nhưng tầng hầm thì khóa lại, đừng cho con bé xuống.

    Mấy đứa nhỏ trong làng bảo ở đó lạnh lẽo lắm…”

    Như chỉ cười trừ. Cô nghĩ, chắc nhà lâu không có người nên bọn trẻ bịa chuyện.

    Nhưng đêm đầu tiên trôi qua không yên bình như cô nghĩ.

    Khoảng ba giờ sáng, Như tỉnh giấc vì nghe tiếng lục đục dưới tầng trệt.

    Cô vội chạy xuống thì chếtsững.

    Con gái cô – Thúy – đang ngồi bệt giữa phòng khách, hai mắt nhắm nghiền, tay đặt lên một viên gạch xám giữa sàn nhà.

    Giọng con bé nhỏ nhẹ, tha thiết:

    “Bà ơi, đừng buồn… Con thương bà cụ dưới nền nhà…”

    Như ho;ảng hố;t lay con dậy. Thúy mở mắt, ngơ ngác nhìn mẹ rồi hỏi:

    “Mẹ ơi, ai tên Hiền vậy? Sao con nghe bà cụ khóc…”

    Dù cố trấn an con, trong lòng Như dấy lên nỗi bất an.

    Cô tự nhủ, chắc con bé bị ảnh hưởng do vừa chuyển nhà, cộng thêm trí tưởng tượng phong phú. Nhưng mọi chuyện chưa dừng ở đó.

    Thúy trở nên lặng lẽ. Con bé không còn líu lo như mọi ngày mà chỉ thích ngồi một mình, cặm cụi vẽ tranh.

    Những bức tranh ngày càng quái dị: hình một người phụ nữ bị trói tay, má;u chảy loang nền nhà, khuôn mặt đầy đau đớn.

    Một đêm, Thúy s ốt cao.

    Trong cơn mê man, giọng nói phát ra từ miệng con bé không còn là giọng trẻ con nữa, mà như của một người phụ nữ trưởng thành:

    “Họ đ ổ xi măng lên người tôi…

    Tôi không điên… Tôi có th;a i…”

    Như như ch;;ết lặng.

    Cô ôm con vào lòng, toàn thân run rẩy. Sáng hôm sau, cô bắt đầu dò hỏi về ngôi nhà.

    Bà Đào – chủ tiệm bánh gần chợ – hạ giọng khi nghe Như hỏi:

    “Chị cũng dọn vào cái nhà đó à?

    Trước kia có gia đình khác, đứa con gái cứ khóc đêm, thấy ‘hồnma’, rồi bỏ đi trong một tuần.”

    Ông Chí – một cụ già từng sống ở làng từ thời chiến tranh – sau nhiều lần năn nỉ mới kể:

    “Năm 1974, có cô Hiền, ngoan hiền lắm, làm thư ký cho hợp tác xã.

    Nghe đâu bị ba thằng đàn ông cưỡng hiếp – trong đó có ông Hòa, trưởng thôn ngày đó.

    Cô ấy tố cáo… rồi biến mất không dấu vết.”

    Như hỏi: “Không ai tìm cô ấy à?”

    Cụ Chí thở dài, mắt đục ngầu:

    “Họ bảo cô ấy đ;iên… Rồi lặng lẽ xếp hồ sơ.

    Người làng thì sợ… Làng này quen sống im lặng rồi.”

    Không thể chịu đựng thêm, một đêm, Như lấy hết can đảm.

    Cô lặng lẽ đập viên gạch xám nơi Thúy từng ngồi thì thầm.

    Dưới lớp gạch, lớp xi măng lởm chởm, lạnh buốt.

    Sau hai giờ đào sâu, tay cô chạm vào một mảnh vải mục.

    Đó là khăn trùm đầu, lấm m áu đã khô lại như bùn đất.

    Trong góc hố nhỏ, có một hộp thiếc rỉ sét. Cô run rẩy mở ra.

    Một bức thư tuyệt mệnh, chữ viết nguệch ngoạc nhưng rõ ràng:

    “Tôi tên Hiền. Tôi bị ông Hòa và hai người đàn ông cưỡng hiếp, có th;;ai. Họ bảo tôi điên.

    Tôi không đi ên. Tôi còn sống khi họ chôn tôi. Tôi không bỏ rơi con tôi…

    Nếu ai tìm thấy thư này, xin nói với con trai tôi rằng: Mẹ yêu con.”

    Như òa khóc. Mảnh đất dưới chân cô giờ như bốc mùi m áu tanh, lạnh đến xương tủy.

    Tin tức rò rỉ. Dân làng thay vì ủng hộ, lại gi;;ận dữ:

    – “Nó đào bới linh tinh!”

    – “Mang chuyện xấ u xí xới lại làm gì?”

    Ai đó phá xe máy của Như. Ai đó phun nước bọt vào con cô trước cổng trường.

    Thúy bị đám trẻ con hùa vào chửi là “manhập”.

    Ông Đức – chủ tịch xã, con trai của ông Hòa – lạnh giọng:

    “Chị muốn yên thân thì rút lui đi. Mấy chuyện cũ ấy, để ngủ yên dưới đất còn hơn.”

    Nhưng Như không dừng lại.

    Cô gửi thư và bằng chứng đến luật sư, báo chí, rồi tòa án.

    Kết quả điều tra chấn động: mẫu máu từ khăn khớp với ADN của một người tên Kiệt – sống trong trại trẻ mồ côi, chưa từng biết mẹ là ai.

    Dư luận bùng nổ. Các tờ báo gi ật tít: “Bímật bị ch ôn v ùi gần 50 năm – người phụ nữ bị giếtoan!”.

    Ông Đức bị cách chức. Cảnh sát mở lại hồ sơ.

    Danh tính ba kẻ thủ ác bị công khai, dù hai người trong số đó đã ch;ết.

    Một buổi lễ tưởng niệm được tổ chức tại đình làng – nơi Hiền từng cầu c;ứu.

    Trong làn khói hương bảng lảng, Thúy đứng giữa sân, tay nắm tay Kiệt – giờ đã là người đàn ông gần 50 tuổi – khẽ nói:

    “Bà Hiền đã đi rồi, đi trong ánh sáng…

    Bà không còn buồn nữa đâu.”

    Kiệt bật khóc. Lần đầu tiên trong đời, anh được nghe tiếng mẹ, qua miệng một đứa bé bảy tuổi.

    Ngôi nhà trở lại bình yên.

    Không còn mùi tanh, không còn tiếng khóc trong gương, không còn đèn chớp tắt lúc nửa đêm.

    Thúy vui vẻ trở lại.

    Những bức tranh của con bé giờ là cảnh đồng quê, nụ cười, ánh sáng.

    Kiệt, sau bao năm lưu lạc, tìm được nguồn cội của mình.

    Như – người mẹ đơn độc, từng bị cả làng dọa nạt – được vinh danh là người phụ nữ dũng cảm đã giúp giải o an cho một linh hồn và một quá khứ bị lãng quên.

    “Im lặng trước tội á c là tiếp tay cho cái á c.

    Sự thật có thể bị chôn vùi, nhưng một ngày nào đó, nó sẽ trỗi dậy, đòi lại công lý cho những linh h ồn đã từng bị bó p ngh ẹt giữa bóng tối.”

  • Năm 1986, mẹ bảo tôi sang nhà bác cả vay ít gạo, không ngờ bác hào phóng cho hẳn 10kg gạo

    Năm 1986, mẹ bảo tôi sang nhà bác cả vay ít gạo, không ngờ bác hào phóng cho hẳn 10kg gạo

    Năm 1986, tôi vừa tròn mười hai tuổi. Đó là thời điểm mà cái đói len lỏi vào từng mái nhà. Bữa cơm của gia đình tôi thường chỉ có chút gạo độn thêm khoai sắn, chan canh rau muống loãng. Cha đã mất từ nhiều năm trước, để lại mẹ gồng gánh nuôi ba chị em tôi.

    Hôm ấy, trời cuối đông, gió bấc hun hút thổi. Tôi thấy mẹ loay hoay bên chiếc hũ gạo đã trơ đáy. Bà bốc từng hạt còn sót lại, rồi thở dài:

    – Con sang bác cả vay ít gạo, mai mẹ tìm cách trả.

    Tôi rụt rè xách cái túi cói cũ, chạy sang nhà bác cả. Nói ra lời nhờ vả, tôi thấy hai gò má mình nóng ran. Nhưng bác cả không trách, chỉ nhìn tôi thật lâu. Đôi mắt bác ánh lên một điều gì đó rất khó tả: vừa xót xa, vừa nặng nề.

    Một lát sau, bác quay vào nhà, mang ra cả túi gạo nặng trĩu, chắc phải mười cân. Bác đặt vào tay tôi, giọng khẽ run:

    – Mang về cho mẹ con, đừng ngại.

    Tôi vui mừng khôn xiết, líu ríu cảm ơn rồi khệ nệ ôm bao gạo về. Trên đường, cái lạnh như không còn buốt giá, vì tôi nghĩ tới cảnh cả nhà sẽ được ăn cơm trắng, không phải cháo loãng nữa.

    Vừa bước vào sân, tôi hồ hởi gọi:

    – Mẹ ơi, bác cho nhiều lắm!

    Mẹ ra đỡ, đặt túi gạo xuống, mở miệng túi. Bất ngờ, bàn tay bà khựng lại. Giữa đống gạo trắng, có một cái hộp gỗ nhỏ, cũ kỹ, kèm một túi vải buộc chặt. Mẹ sững người, rồi run run nhặt lên.

    Mở hộp, mẹ nghẹn ngào khi thấy chiếc khăn tay cũ thêu hai chữ “H – L” và con dao gấp quen thuộc. Đó là những kỷ vật cha tôi mang theo trước lúc nhập ngũ.

    Rồi mẹ mở túi vải. Bên trong, những đồng bạc trắng lấp lánh ánh lên dưới ngọn đèn dầu. Tôi ngỡ ngàng, còn mẹ thì run bắn người, đôi mắt đỏ hoe. Bà vội mở tiếp lá thư ố vàng được gấp cẩn thận.

    Giọng mẹ lạc đi khi đọc:

    “Lan à, nếu em đọc được những dòng này, có lẽ anh đã không còn ở bên em và các con. Anh gửi bác cả giữ hộ ít gạo, chút kỷ vật và số bạc dành dụm. Nếu một ngày gia đình thật sự lâm cảnh khốn khó, bác sẽ trao lại. Hãy dùng số bạc này để vượt qua những ngày đói rét. Anh không thể về, nhưng mong hơi ấm cuối cùng này giúp em và các con đứng vững. Anh tin em đủ mạnh mẽ. Ở nơi xa, anh vẫn dõi theo…”

    Mẹ gục xuống, ôm chặt lá thư vào ngực, nước mắt trào ra như suối. Tôi đứng lặng, tim nặng trĩu. Chưa bao giờ tôi thấy mẹ vừa đau đớn vừa xúc động đến vậy.

    Đêm hôm ấy, mẹ không nấu gạo ngay. Bà thắp nén nhang trên bàn thờ cha, đặt lá thư, chiếc khăn và số bạc cạnh di ảnh, thì thầm:

    – Mình ơi, cuối cùng em cũng nhận được hơi ấm mình gửi lại. Mình vẫn ở đây, vẫn lo cho mẹ con em…

    Khói hương bay nghi ngút, gương mặt mẹ sáng lên trong dòng nước mắt.

    Những ngày sau, nhờ số bạc trong túi, mẹ mua thêm thóc, khoai, chút muối mắm. Ba mẹ con thoát khỏi cảnh đói khát đang đe dọa. Mỗi bữa cơm không còn là nỗi lo, mà là niềm biết ơn. Mẹ luôn dặn:

    – Ăn đi con. Đây không chỉ là cơm, mà là tình thương cha các con gửi lại.

    Tôi cầm bát cơm trắng, thấy ngọt ngào lạ lùng, mà cũng mằn mặn nơi khóe mắt.

    Nhiều năm sau, khi đã trưởng thành, tôi vẫn nhớ như in buổi chiều đông năm ấy. Buổi chiều mà từ trong bao gạo, mẹ tìm thấy cả một kho báu: không chỉ là số bạc cứu đói, mà còn là lá thư thấm đẫm tình yêu của cha.

    Tôi hiểu rằng, di sản lớn nhất cha để lại không phải là tiền bạc, mà là sự lo toan, tình thương, và ngọn lửa để cả gia đình bước qua giông bão.

    Và cho đến tận bây giờ, mỗi khi nhìn thấy hạt gạo trắng, tôi lại nhớ đến hình ảnh mẹ ôm lá thư khóc nức nở – một ký ức không bao giờ phai, một ký ức nuôi dưỡng tôi cả đời.

  • Chồng tôi lương 8 triệu, ở rể suốt 4 năm bị gia đình tôi, đặc biệt là mẹ vợ kh;;inh thư;;ờng. Một ngày anh đi làm không trở về

    Chồng tôi lương 8 triệu, ở rể suốt 4 năm bị gia đình tôi, đặc biệt là mẹ vợ kh;;inh thư;;ờng. Một ngày anh đi làm không trở về

    Tôi đứng chôn chân trước cổng xưởng cơ khí, cái mùi dầu mỡ và tiếng máy móc ầm sĩ bỗng trở nên xa lạ đến đáng sợ. “Gửi lại cho vợ”… Câu nói ấy không phải là sự quan tâm, mà giống như một lời tuyệt giao, một sự thanh thản đến tàn nhẫn mà anh để lại sau lưng.

    Về đến nhà, không khí u ám bao trùm. Mẹ tôi thấy tôi thất thần bước vào, bà vẫn thản nhiên ngồi gọt hoa quả, miệng không ngừng càm ràm: — Đấy, lại đi đâu biệt tăm biệt tích. Thứ đàn ông vô tích sự, chắc lại tụ tập rượu chè ở đâu rồi. Có khi nó bỏ đi cho rảnh nợ, cái loại lương 8 triệu ấy có mất cũng chẳng tiếc!

    — Mẹ im đi! — Tôi hét lên, nước mắt trào ra. — Anh ấy nghỉ việc rồi. Anh ấy bỏ đi rồi mẹ có vừa lòng chưa?

    Mẹ tôi sững lại, định mắng thêm nhưng nhìn thấy bộ dạng rũ rượi của tôi, bà hừ một tiếng rồi bỏ vào phòng. Tôi lảo đảo bước vào căn phòng nhỏ của hai vợ chồng. Bình thường, căn phòng luôn ngăn nắp vì anh thường xuyên dọn dẹp. Nhưng hôm nay, nó trống trải một cách lạ lùng.

    Trên chiếc bàn gỗ nhỏ kê sát cửa sổ, nơi anh vẫn hay ngồi tỉ mẩn sửa lại mấy món đồ gia dụng hỏng cho hàng xóm, có một chiếc phong bì cũ. Tôi run rẩy mở ra. Bên trong là một cuốn sổ tiết kiệm mang tên tôi, một tờ giấy A4 được gấp làm tư, và một chùm chìa khóa lạ.

    “Gửi Linh,

    Khi em đọc những dòng này, có lẽ anh đã rời khỏi thành phố. Bốn năm qua, anh cảm ơn em vì đã cho anh một mái nhà, dù đôi khi mái nhà ấy khiến anh thấy mình thật nhỏ bé. Anh biết mẹ không hài lòng về anh, và anh cũng biết em đã mệt mỏi khi phải đứng giữa hai người.

    Anh không phải công nhân kỹ thuật bình thường, Linh ạ. Anh là kỹ sư cơ khí chính xác. Bốn năm trước, công ty cũ của anh phá sản, anh mang nợ một khoản lớn. Anh giấu em vì không muốn em phải gánh vác cùng. Anh chọn làm một người công nhân lương 8 triệu để ẩn mình, để dành toàn bộ thời gian và tâm trí trả nợ bằng những bản thiết kế tự do vào ban đêm.

    Số tiền trong cuốn sổ này là toàn bộ tiền bản quyền và thù lao thiết kế anh tích cóp được sau khi đã trả hết nợ. Nó đủ để em mua một căn chung cư nhỏ, để em không phải nghe mẹ than vãn về người chồng ở rể không lo nổi cái nhà trọ nữa. Chùm chìa khóa kia là của một căn hộ anh đã đặt cọc đứng tên em. > Anh đi để tìm lại bản thân mình. Anh nhận ra, sự chịu đựng của anh không mang lại hạnh phúc cho em, mà chỉ khiến em dần coi khinh anh giống như cách mẹ nhìn anh. Chúng ta tạm xa nhau nhé, để xem liệu khi không có ‘gánh nặng’ 8 triệu này, em có thực sự thấy nhẹ lòng hơn không.”

    Tôi ngã quỵ xuống sàn nhà. Cuốn sổ tiết kiệm ghi con số 2 tỷ đồng.

    Hai tỷ đồng. Cái giá của sự nhẫn nhịn suốt bốn năm. Cái giá của những đêm anh thức trắng bên bàn làm việc mà tôi chỉ nghĩ là anh đang chơi game hay xem phim linh tinh. Cái giá của những lần anh bị mẹ tôi mắng chửi thậm tệ nhưng vẫn lẳng lặng vào bếp nấu cơm vì sợ tôi đi làm về đói.

    Tôi nhớ lại mỗi buổi sáng anh đưa tôi 200 nghìn, nhớ lại chiếc áo bảo hộ sờn vai anh mặc suốt mấy năm không thay mới, nhớ lại nụ cười hiền lành bị tôi đáp lại bằng những cái lườm nguýt. Tôi cứ ngỡ mình là “nạn nhân” của một cuộc hôn nhân nghèo khó, nhưng hóa ra, tôi mới chính là kẻ bạc bẽo nhất. Tôi đã nhận lấy sự hy sinh của anh như một lẽ đương nhiên, rồi dùng chính sự hy sinh đó để khinh thường anh.

    Mẹ tôi từ trong phòng bước ra, nhìn thấy con số trên cuốn sổ tiết kiệm, mắt bà sáng rực lên: — Trời ơi, nó lấy đâu ra nhiều tiền thế này? Thấy chưa, mẹ nói mà, nó giấu giếm tiền nong. May mà nó để lại, con cầm lấy mà mua nhà, rồi bỏ quách cái loại lừa đảo đấy đi…

    — Mẹ thôi đi! — Tôi đứng bật dậy, nhìn mẹ bằng ánh mắt mà chính bà cũng phải sợ hãi. — Chính sự khinh rẻ của mẹ, và sự hèn nhát của con, đã đuổi anh ấy đi. Mẹ có biết anh ấy đã sống như thế nào trong cái nhà này không? Tiền này… con không chạm vào một xu. Con sẽ tìm anh ấy về.

    Tôi chạy ra khỏi nhà, lao vào màn đêm. Tôi đến những nơi chúng tôi từng đi qua, những quán ăn vỉa hè anh thích, nhưng bóng dáng thân quen ấy không còn nữa. Điện thoại vẫn là những tiếng tút dài vô vọng.

    Một tuần, một tháng, rồi ba tháng trôi qua.

    Tôi dọn ra khỏi nhà mẹ đẻ, thuê một căn phòng nhỏ gần công ty. Tôi không mua nhà bằng số tiền đó, tôi gửi nó vào ngân hàng và hằng ngày vẫn đi làm bằng xe buýt. Tôi bắt đầu học cách tự lập, học cách thấu hiểu những áp lực mà trước đây anh đã một mình gánh chịu.

    Một ngày nọ, tôi nhận được một bưu phẩm không ghi địa chỉ người gửi, bên trong là một tấm ảnh chụp một xưởng cơ khí hiện đại ở miền Trung, kèm theo một mẩu giấy nhỏ: “Anh đang sống rất tốt. Hy vọng em cũng vậy.”

    Tôi không khóc. Tôi mỉm cười. Tôi biết anh đang cho tôi một cơ hội, không phải để quay lại ngay lập tức, mà để tôi trưởng thành hơn, để tôi xứng đáng với tình yêu thầm lặng của anh.

    Giá trị của một người đàn ông không nằm ở con số 8 triệu hay 2 tỷ. Nó nằm ở cách anh ta bảo vệ người phụ nữ của mình ngay cả khi cô ấy không nhận ra điều đó. Và tôi, tôi sẽ dành cả phần đời còn lại để chứng minh cho anh thấy, tôi đã học được cách trân trọng những điều vô giá ấy.